Chuyên mục chính

  • Nghi lễ vòng đời
    • Hôn lễ
    • Sinh con
    • Động thổ làm nhà
    • Mừng thọ và sinh nhật
    • Tang ma
    • Ngày giỗ
  • Nghi lễ hàng năm
    • Dịp Tết Nguyên Đán 1/1
    • Dâng sao giải hạn 15/1
    • Nguyên tiêu 15/1
    • Tết Thanh minh 3/3
    • Tết Hàn thực 3/3
    • Tết Đoan ngọ 5/5
    • Lễ Thất Tịch 7/7
    • Lễ Vu Lan 15/7
    • Tết Trung Nguyên 15/7
    • Tết Trung thu 15/8
    • Tết Trùng Cửu 9/9
    • Tết Cơm mới (10-15/10)
    • Tết Táo Quân 23/12
    • Ngày mùng 1 hàng tháng
    • Ngày rằm hàng tháng
  • Đặc trưng văn hóa Việt
    • Chữ và Nghĩa
    • Phong tục thờ cúng
    • Văn hóa giao tiếp
    • Món ăn truyền thống
    • Trò chơi dân gian
    • Trang phục truyền thống
    • Nghệ thuật truyền thống
    • Di sản văn hoá
    • Nền nếp sinh hoạt
  • Tôn giáo tín ngưỡng
    • Phật giáo
    • Công giáo
    • Thờ cúng tổ tiên
    • Thờ cúng tổ nghề
    • Tín ngưỡng thờ Thần
    • Tín ngưỡng thờ Mẫu
    • Tôn giáo khác

Menu

  • Trang đầu
  • Giới thiệu
  • Liên hệ

Follow Us

DMCA.com Protection Status
Cổ Phong
No Result
View All Result
Khóa học
Cổ Phong
No Result
View All Result
Home Đặc trưng văn hóa Việt Biểu tượng văn hoá
Z7592524916969 8129f155bec97f1689ebf472b2d5a34b

Điển tích Kết thảo hàm hoàn

Dẫn nhập

Trong văn hóa – văn học phương Đông, nhiều điển tích Trung Hoa đã trở thành nguồn cảm hứng, được lưu truyền và ảnh hưởng sâu rộng sang các quốc gia lân cận, trong đó có Việt Nam.

Các điển tích và điển cố Trung Hoa đã được người Việt tiếp nhận, vận dụng sáng tạo trong văn học nghệ thuật, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa dân tộc. Chúng không chỉ là dấu ấn của sự giao thoa văn hóa, mà còn dần trở thành những nét quen thuộc trong đời sống tinh thần người Việt. Một trong những điển tích tiêu biểu là Kết thảo hàm hoàn, mang ý nghĩa về lòng tri ân và đạo lý báo đáp ân nghĩa.

Khái niệm

Kết thảo hàm hoàn, 結 / kết: buộc, kết lại; 草 / thảo: cỏ → 結草: kết cỏ (linh hồn người chết kết cỏ làm vướng chân ngựa để báo ân); 含 / hàm: ngậm; 環 / hoàn: vòng, vành (chiếc nhẫn) → 含環: ngậm vành (hóa chim ngậm nhẫn trả ơn). Vậy, Kết thảo hàm hoàn trong ngôn ngữ Việt là Kết cỏ ngậm vành, một thành ngữ được sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày và trong các tư liệu thành văn.

Trong cuốn Từ điển tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên cũng lý giải:

“kết” là đan, bện, gắn kết nhiều thứ lại thành một khối; “cỏ” là loài thực vật thân mềm, mọc lan trên mặt đất, thường dùng làm thức ăn cho trâu, bò, ngựa; “ngậm” là giữ vật gì trong miệng, ở trạng thái khép kín; còn “vành” là vòng tròn bao quanh phần ngoài của một vật, dùng từ chỉ hình tròn, cái vòng. Kết cỏ ngậm vành: nguyện báo đáp ơn sâu”[1].

Thành ngữ này bắt nguồn từ hai điển tích Trung Hoa Kết cỏ và Ngậm vành, vốn là những câu chuyện dân gian cổ, sau được đưa vào thơ ca, văn học, ca dao, tục ngữ và cả trong ngôn ngữ đời thường của người Việt… nhắc nhở con người về đạo hiếu và lòng tri ân, đền đáp ân nghĩa sâu nặng đối với người đã từng giúp đỡ mình.

Nguồn gốc

Theo cuốn Từ điển tiếng Việt:

“Điển tích (典故): là một câu chuyện trong sách đời trước, được dẫn lại một cách cô đúc trong tác phẩm. Thành ngữ (成語): là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên, ghép lại thành một cụm từ cố định, ngắn gọn, hình thành từ lâu trong ngôn ngữ, dùng để diễn đạt một ý nghĩa trọn vẹn.”[2]

“Kết cỏ ngậm vành” là sự kết hợp của hai điển tích cổ trong văn học Trung Hoa, trong đó chuyện “Kết cỏ” xuất hiện ở Tả truyện (左傳), còn “Ngậm vành” được chép trong Tục Tề Hài ký (续齐谐记).

Điển tích Kết cỏ

Điển tích Kết cỏ được ghi lại trong Tả truyện (左傳)[3], bộ sử truyện thời Xuân Thu (thế kỷ V TCN), do Lỗ Thái sử Tả Khâu Minh biên soạn.

Trong Tả truyện, ở phần Lỗ Thành Công có đoạn chép:

“秋七月,秦桓公伐晋,次于辅氏。壬午,晋侯治兵于稷以略狄土,立黎侯而还。及洛,魏颗败秦师于辅氏。获杜回,秦之力人也。 初,魏武子有嬖妾,无子。武子疾,命颗曰:「必嫁是。」疾病,则曰:「必以为殉。」及卒,颗嫁之,曰:「疾病则乱,吾从其治也。」及辅氏之役,颗见老人结草以亢杜回,杜回踬而颠,故获之。夜梦之曰:「余,而所嫁妇人之父也。尔用先人之治命,余是以报。」 ”[4]

Tức: “Mùa thu, tháng bảy, Tần Hoàn Công đánh nước Tấn, đóng quân tại Phụ Thị. Ngày Nhâm Ngọ, Tấn hầu chỉnh đốn binh mã ở đất Tắc để lấn chiếm đất của người Địch, lập Lê hầu rồi rút quân về.

Khi đến sông Lạc, Ngụy Khỏa đánh bại quân Tần tại Phụ Thị, bắt được Đỗ Hồi, là lực sĩ của nước Tần. Trước đó, Ngụy Vũ Tử có một người thiếp được sủng ái, nhưng không có con. Khi Vũ Tử lâm bệnh, dặn Khỏa rằng: “Ắt phải gả người này đi.” Bệnh nặng thêm, lại nói: “Ắt phải đem làm vật tuẫn táng.”

Đến khi chết, Khỏa đem gả người thiếp ấy, nói rằng: “Khi bệnh thì lời nói rối loạn, ta theo mệnh lệnh lúc còn tỉnh táo.” Đến trận Phụ Thị, Khỏa thấy một ông lão bện cỏ dưới đất để ngăn Đỗ Hồi; Đỗ Hồi vấp ngã, ngã lăn ra, vì thế bị bắt. Ban đêm, Khỏa mộng thấy ông lão ấy nói rằng: “Ta là cha của người phụ nữ mà ngươi đã gả đi. Ngươi dùng mệnh lệnh khi cha ta còn tỉnh táo, nên ta báo đáp ngươi như vậy.”

Ở Việt Nam, điển tích Kết cỏ được chép lại trong một số ấn phẩm. Trong cuốn Tầm Nguyên từ điển, tác giả Lê Văn Hòe viết:

“Sách Tả-truyện chép rằng Ngụy-Vũ-Tử đời Tấn có người vợ lẽ rất đẹp Ngụy yêu-quý vô cùng. Lúc Ngụy mới mắc bệnh dặn con trai là Ngụy-Khỏa rằng nếu mình chết thì cho người vợ lẽ ấy đi lấy chồng. Lúc gần chết Ngụy lại thay đổi ý-kiến bảo con phải chôn sống vợ lẽ chung một áo quan với mình. Khỏa không nghe cho người đàn-bà ấy đi lấy chồng. Sau Khỏa đánh giặc với tướng nhà Tần là Đỗ-Hồi, lúc gần thua tự nhiên Hồi vướng chân vào cỏ ngã bị Khỏa giết chết. Đêm ấy Khỏa nằm mộng thấy một ông già đến nói rằng: Cám ơn ông không chôn sống con gái tôi, nên tôi kết cỏ quấn chân giặc để trả ơn ông.”[5]

Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam chép:

“Kết cỏ: Theo Tả truyện, Ngụy Vũ Tử có người thiếp yêu không có con, ngày thường dặn con là Ngụy Khoả rằng: “Nếu ta chẳng may có chuyên gì hoặc ốm mà phải chết, thì con lo gả chồng tử tế cho nàng.” Nhưng khi Vũ Tử ốm nặng sắp chết, lại dặn Khoả: “Đem nàng chôn theo ta.” Khi Vũ Tử chết, Nguỵ Khoả cứ đem gả chồng cho nàng, nói rằng: “Nay ta theo lời dặn khi cha ta còn sáng suốt mà đem gả chồng cho nàng.” Đến khi đánh nhau với quân Tần ở Phụ Thị, Khoả thấy một ông già cứ nắm từng bụi cỏ mà kết lại với nhau. Ngựa Đỗ Hồi vì thế mà vướng ngã, rồi bị Nguy Khoả bắt. Đêm đó Nguỵ Khoả nằm mộng thấy ông già kết cỏ đến nói: “Tướng quân biết theo lời dặn sáng suốt của tiên nghiêm mà gả chồng cho con gái tôi. Vì cớ ấy tôi đã kết cỏ giúp.”[6]

Hình ảnh kết cỏ (bện cỏ ngáng đường) trong câu chuyện trên đã nhắc đến tấm lòng biết ơn sâu nặng của người đã khuất, hiển linh về báo đáp ân nghĩa.

Điển tích Ngậm Vành

“Ngậm vành” (銜環, hàm hoàn) vốn bắt nguồn từ điển tích “Hoàng tước ngậm vòng” (黃雀銜環) thời Hán. Trong Hậu Hán thư, ở phần chú giải tiểu sử Dương Chấn, có dẫn lại câu chuyện này từ Tục tề hài ký (续齐谐记)[7], kể về việc chim sẻ vàng ngậm vòng ngọc báo đáp ân cứu mạng:

“〔二〕 續齊諧記曰:「寶年九歲時,至華陰山北,見一黃雀為鴟梟所搏,墜於樹下,為螻蟻所困。寶取之以歸,置巾箱中,唯食黃花,百餘日毛羽成,乃飛去。其夜有黃衣童子向寶再拜曰:『我西王母使者,君仁愛救拯,實感成濟。』以白環四枚與寶:『令君子孫潔白,位登三事,當如此環矣。』」”[8]

Tức: “Điển cố “hoàng tước hàm hoàn: Con chim vàng ngậm vành. Xuất xứ điển trong sách Tục tề hài ký của Ngô Quân người thời Nam-Lương triều: Sử giả của Tây Vương Mẫu ta, được đội ơn ngài cứu vớt. Thực sự cảm nhớ ân nhân đức. Nay tặng vòng trắng bốn cái, để khiến cho con cháu của ngài được thanh bạch, ngôi vị được đến hàng tam công, được như ý như cái vòng này. Về sau điển cố này dùng để nói việc hàm nhớ ơn thì báo đáp.”

Điển tích này được lưu truyền về Việt Nam và được ghi chép trong nhiều ấn phẩm. Cuốn Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam có viết:

“Ngậm vành: Theo Hậu Hán thư, Dương Bảo đời Hậu Hán thuở lên chín, một hôm đến chơi mé bắc núi Hoa Âm, thấy con chim sẻ vàng bị loài chim cắt đánh, rơi nằm dưới một gốc cây đang bị kiến lửa đốt. Bảo bắt đem về nuôi, cho ăn hoa vàng hơn trăm ngày, lông lá mọc lại đầy đủ mới thả cho bay đi. Đêm hôm ấy, có đứa trẻ bận áo vàng đến trước Bảo, lạy tạ bốn vòng ngọc.”[9]

Tầm Nguyên từ điển chép:

“Đời Đông-Hán, Dương-Bảo lên 9 tuổi qua núi Hoa-Sơn cứu sống được một con chim sẻ vàng bị chim cắt đánh gần chết. Dương đem về bỏ lồng lấy hoa vàng nuôi trong hơn 100 ngày. Chim mạnh, sáng đi chiều lại về. Một buổi chiều chim hóa ra một cậu bé áo vàng, ngậm ở miệng bốn chiếc vành ngọc đem biếu Dương-Bảo để trả ơn.”[10]

Ngoài ra, trong cuốn Điển tích trong Truyện Kiều còn chép một câu chuyện khác về điển tích Ngậm vành:

“Thời Thượng cổ, vua Thái Mậu nhà Thương một hôm được ngoài biên ải tiến cống một con chim Hoàng tước rất đẹp. Nhà vua vốn rất thích chim Hoàng tước nên cho chim ở lồng son, giao hẳn một vị hoạn quan đặc trách chăm sóc. Hàng ngày, mỗi khi tan chầu, nhà vua đích thân cho chim ăn.

Chim Hoàng tước bị nhốt vào lồng son, lẻ đôi bạn nên càng ngày càng biếng ăn, biếng hót. Nhà vua ra lệnh đem lồng chim treo ngoài vườn Ngự uyển với hy vọng chim sẻ tươi tắn trở lại trong cảnh hoa cỏ, trời mây. Từ khi con Hoàng tước của nhà vua được treo ngoài vườn Ngự uyển thì hàng ngày có một con Hoàng tước mái từ đâu bay đến, đậu trên cành cao gần lồng chim cất tiếng kêu thảm thiết. Con Hoàng tước trống trong lồng son lại càng ủ rũ hơn nữa.

Nhà vua trông thấy chim trống ủ rū, bèn hạ lệnh cho viên hoạn quan thả chim đi. Hoạn quan tâu:

– Muôn tâu bệ hạ, Hoàng tước là một giống chim quý, xin bệ hạ đừng thả.

 Nhà vua phán:

 – Ta rất quy chim nhưng cũng xa xót vô cùng khi thấy chım ủ rū. Ta nuôi chim là để làm vui, nay lòng không vui thì còn nuôi mà làm gì. Được sổ lồng, chim Hoàng tước trống cất mình lên cành cao. Đậu bên con chim mái, cả hai cất tiếng hót líu lo ra chiều vui sướng lắm. Rồi chúng bay lượn chung quanh nhà vua mấy lượt trước khi rời khỏi hoàng cung.

Nhà vua nhìn theo đôi chim Hoàng tước và nói: Ta mất chim quý, nhưng chim lại được cái quý lớn lao là trở lại với bầu trời xanh bao la và đôi chim trống mái ấy sẽ không còn đau khổ nữa.

 Ít lâu sau, khi vua Thái Mậu đang xem hoa trong vườn Ngự uyển thì có con Hoàng tước trống bay đến đáp xuống trước mặt nhà vua, miệng nó ngậm một chiếc vòng ngọc. Nó xòe cánh múa may trước mặt nhà vua rồi dâng cho ngài chiếc vòng ngọc và bay đi…”[11]

Vậy, ta thấy rằng, Kết cỏ và Ngậm vành vốn là hai điển tích riêng biệt nhưng đều cùng chung ý nghĩa là nói về việc báo đáp ân nghĩa.

Dấu ấn điển tích trong văn học

Kết cỏ ngậm vành là thành ngữ có nguồn gốc từ điển tích Trung Hoa, sau khi du nhập đã được dân gian tiếp nhận, sáng tạo và vận dụng theo cách riêng, gắn liền với đạo lý truyền thống. Văn học trung đại ghi nhận sự hiện diện phong phú của thành ngữ, trong đó có Truyện Kiều của Nguyễn Du và truyện thơ Hoa Tiên truyện.

Truyện Kiều có đoạn:

Rằng: Tôi bèo bọt chút thân,
Lạc đàn mang lấy nợ nần yến anh.
Dám nhờ cốt nhục tử sinh,
Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau!

Đoạn thơ cho thấy nỗi tủi hổ và mặc cảm thân phận của Thúy Kiều khi phải xa gia đình, trôi dạt giữa dòng đời và rơi vào chốn lầu xanh ô nhục. Trong hoàn cảnh tuyệt vọng ấy, Kiều đặt niềm tin vào Sở Khanh, xem chàng như ân nhân cứu mình khỏi cảnh khổ, coi đó là ơn cứu mạng. Câu “cốt nhục tử sinh” mang ý nghĩa được cứu sống từ cõi chết, thể hiện ân nghĩa vô cùng to lớn. Vì vậy, câu thơ “Còn nhiều kết cỏ ngậm vành về sau” là lời hứa chân thành của Kiều sau này, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, nàng cũng sẽ ghi nhớ và tìm cách báo đáp ân tình ấy.

Trong Hoa Tiên truyện cũng có câu thơ nhắc về chi tiết ngậm vành. Hoa Tiên là truyện thơ Nôm do Nguyễn Huy Tự viết theo thể lục bát, nội dung dựa vào một ca bản của Trung Quốc là Đệ bát tài tử Hoa tiên ký/ 第八才子花箋記, hay còn gọi là Hoa Tiên ký, là một ca bản thuộc loại hình nghệ thuật thuyết xướng Mộc ngư ca[12] ở Quảng Đông, Trung Quốc, được viết bằng thể thơ thất ngôn cổ phong, liên vận, thỉnh thoảng có thêm vài chữ ở đầu câu để chuyển ý. Câu chuyện kể về mối tình trắc trở giữa Lương Diệc Thương và Dương Dao Tiên. Sau lần gặp gỡ và hẹn ước bằng giấy hoa tiên, hai người bị chia cách vì cha Diệc Thương muốn chàng cưới Lưu Ngọc Khanh, khiến Dao Tiên hiểu lầm. Dao Tiên theo cha lên kinh, còn Diệc Thương buồn bã nhưng sau đó thi đỗ Thám hoa và tình cờ gặp lại nàng và đã giải tỏa được sự hiểu lầm xưa kia. Khi cha Dao Tiên bị giặc vây, Diệc Thương xin ra trận giải vây, nhưng không may bị giặc bắt, tung tin đồn tử trận. Lưu Ngọc Khanh vì thương chàng mà tự vẫn nhưng được cứu sống. Cuối cùng, Diệc Thương vẫn an toàn, lập công lớn cùng Dương Đô đốc. Vua biết chuyện và cho chàng kết duyên với cả Dao Tiên và Ngọc Khanh.

Trong truyện có đoạn chép rằng:

“Vội mừng nào đã kịp đường tính xa.
Về dinh ngẫm-nghĩ việc nhà :
Đành người có nghĩa, sao ta vô tình.
Bến Tương việc hãy rành rành,
Nào đà kết cỏ, ngậm vành chi đâu[13].”

Đoạn thơ trên khắc họa tâm trạng băn khoăn, day dứt trong lòng Dao Tiên khi nghe tin Lương Sinh tử trận. Câu thơ “Nào đà kết cỏ, ngậm vành chi đâu” như lời tự vấn đầy đau xót, ân nghĩa xưa vẫn còn đó, nhưng nàng chưa kịp trả ơn, để lại nỗi day dứt về món nợ ân tình chưa thể trả.

Kết luận

Điển tích “Kết cỏ ngậm vành” bắt nguồn từ văn học Trung Hoa cổ, sau đã được Việt hóa và trở thành một biểu tượng quen thuộc để nhấn mạnh đến tình nghĩa, về lòng biết ơn và đạo lý báo đáp. Ở bình diện nhân văn, thành ngữ này khẳng định một giá trị cốt lõi của văn hóa Việt “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.

Đó không phải là trường hợp duy nhất mà nhiều câu thành ngữ trong văn học Việt Nam cũng có sự tiếp biến từ văn hóa Trung Hoa nhưng đã được nhân dân ra thay đổi, sáng tạo và biến hóa linh hoạt để phù hợp với bối cảnh và tư duy văn hóa của dân tộc. Thông qua việc chuyển hóa này, những hình ảnh, câu chuyện xa xưa không chỉ được bảo tồn mà còn trở thành những công cụ tinh tế để truyền đạt đạo lý, bài học nhân nghĩa, tình cảm và triết lý sống trong đời sống thường nhật. Nhờ đó, thành ngữ không chỉ làm giàu ngôn ngữ và phong cách văn chương, mà còn trở thành cầu nối giữa văn hóa Trung Hoa và Việt Nam, góp phần hình thành bản sắc văn học độc đáo, kế thừa và  sáng tạo.

Chú thích

[1] Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2020, tr.  487, 194, 672, 1098.

[2] Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Sđd, tr. 318.

[3] Xuân Thu Tả Truyện 春秋左傳 còn gọi là Tả Truyện 左傳 (468 TCN – 300 TCN), sách này dùng hình thức tự sự, chú trọng dùng sự việc trong lịch sử.

Tả Khâu Minh (556 – 451 TCN), họ Khâu, tự Minh, là người Hán gốc Quân Trang, Đỗ, nước Lỗ (nay là làng Đông Hành Dư, trấn Thập Hành, thành phố Phi Thành, tỉnh Sơn Đông) vào cuối thời Xuân Thu. Tương truyền, ông là quan sử của nước Lỗ vào cuối thời Xuân Thu. Ông là một sử gia, nhà văn, nhà tư tưởng và nhà chiến lược quân sự lỗi lạc của Trung Quốc cổ đại.

[4] 輯左傳 – Tập tả truyện, Thư viện Quốc gia Việt Nam.

[5] Lê Văn Hòe, Tầm Nguyên từ điển, Nxb Quốc học thư xã, 1941, tr. 129.

[6] Vũ Dung, Thành Ngữ Và Tục Ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2021, tr. 368.

[7] Tục Tề Hài ký là một tác phẩm tiểu thuyết chí quái nổi tiếng của Ngô Quân, một nhà văn thời Nam Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc.

[8] 《後漢書 李賢注》·後漢書卷五十四 楊震列傳第四十四, 汉程网,https://guoxue.httpcn.com/html/book/CQCQMERN/KOPWRNKOIL.shtml

[9] Vũ Dung, Thành Ngữ Và Tục Ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa-Thông tin, 2021, tr. 368.

[10] Lê Văn Hòe, Tầm Nguyên từ điển, Sđd,  tr.130.

[11] Trần Phương Hồ, Điển tích trong truyện Kiều, Nxb Đồng Nai, 1996, tr 243.

[12] Mộc ngư ca (木魚歌) gọi tắt là Mộc ca hay còn gọi Mộ ngư ca (木魚歌), là một nghệ thuật thuyết xướng truyền thống (tựa hát nói của Việt Nam) của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, thuộc hệ thống đản từ, được hình thành vào cuối đời Minh và thịnh hành từ đời Thanh về sau.

[13] Nguyễn Huy Tự, Hoa Tiên truyện, Nxb Lửa Thiêng, e book, tr. 76.

Tài liệu tham khảo

  1. Ban nghiên cứu văn sử địa Việt Nam (1958), Tập san Nghiên cứu Văn sử địa, số 44, Nxb Văn sử địa.
  2. Vũ Dung (2021), Thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa-Thông tin.
  3. Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Trung tâm học liệu.
  4. Quách Văn Hòa (2017), Thành ngữ và điển tích trong thi văn Việt Nam, quyển I, II, Nxb Tầm Nguyên.
  5. Lê Văn Hòe (1942), Tầm nguyên từ điển, Nxb Quốc học Thư xã.
  6. Lê Văn Hòe (1956), Truyện Kiều chú giải, Nxb Zien Hồng.
  7. Trần Phương Hồ (1996), Điển tích trong truyện Kiều, Nxb Đồng Nai.
  8. Vũ Ngọc Phan (2005), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Nxb Văn học.
  9. Hoàng Phê (2020),Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.
  10. Nguyễn Tử Quang, Điển hay tích lạ, quyển 1, Nxb Văn hóa Thông tin, ebook
  11. Lê Văn Thi, “Truyện Hoa tiên dưới góc nhìn văn bản học”, Tạp chí Nghiên cứu văn học – Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Số 2 (600) Tháng 2-2022.
  12. Nguyễn Huy Tự, Hoa-Tiên truyện, Nxb Lửa Thiêng, ebook.
  13. 輯左傳 – Tập tả truyện, Thư viện Quốc gia Việt Nam.
  14. 《後漢書 李賢注》後漢書卷五十四 楊震列傳第四十四, 汉程网,https://guoxue.httpcn.com/html/book/CQCQMERN/KOPWRNKOIL.shtml

Author

  • Hạ Liên
ShareTweet

Để lại một bình luận Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


No Result
View All Result
  • Nghi lễ vòng đời
    • Hôn lễ
    • Sinh con
    • Động thổ làm nhà
    • Mừng thọ và sinh nhật
    • Tang ma
    • Ngày giỗ
  • Nghi lễ hàng năm
    • Dịp Tết Nguyên Đán 1/1
    • Dâng sao giải hạn 15/1
    • Nguyên tiêu 15/1
    • Tết Thanh minh 3/3
    • Tết Hàn thực 3/3
    • Tết Đoan ngọ 5/5
    • Lễ Thất Tịch 7/7
    • Lễ Vu Lan 15/7
    • Tết Trung Nguyên 15/7
    • Tết Trung thu 15/8
    • Tết Trùng Cửu 9/9
    • Tết Cơm mới (10-15/10)
    • Tết Táo Quân 23/12
    • Ngày mùng 1 hàng tháng
    • Ngày rằm hàng tháng
  • Đặc trưng văn hóa Việt
    • Chữ và Nghĩa
    • Phong tục thờ cúng
    • Văn hóa giao tiếp
    • Món ăn truyền thống
    • Trò chơi dân gian
    • Trang phục truyền thống
    • Nghệ thuật truyền thống
    • Di sản văn hoá
    • Nền nếp sinh hoạt
  • Tôn giáo tín ngưỡng
    • Phật giáo
    • Công giáo
    • Thờ cúng tổ tiên
    • Thờ cúng tổ nghề
    • Tín ngưỡng thờ Thần
    • Tín ngưỡng thờ Mẫu
    • Tôn giáo khác

© 2021 cophong.vn