Chuyên mục chính

  • Nghi lễ vòng đời
    • Hôn lễ
    • Sinh con
    • Động thổ làm nhà
    • Mừng thọ và sinh nhật
    • Tang ma
    • Ngày giỗ
  • Nghi lễ hàng năm
    • Dịp Tết Nguyên Đán 1/1
    • Dâng sao giải hạn 15/1
    • Nguyên tiêu 15/1
    • Tết Thanh minh 3/3
    • Tết Hàn thực 3/3
    • Tết Đoan ngọ 5/5
    • Lễ Thất Tịch 7/7
    • Lễ Vu Lan 15/7
    • Tết Trung Nguyên 15/7
    • Tết Trung thu 15/8
    • Tết Trùng Cửu 9/9
    • Tết Cơm mới (10-15/10)
    • Tết Táo Quân 23/12
    • Ngày mùng 1 hàng tháng
    • Ngày rằm hàng tháng
  • Đặc trưng văn hóa Việt
    • Chữ và Nghĩa
    • Phong tục thờ cúng
    • Văn hóa giao tiếp
    • Món ăn truyền thống
    • Trò chơi dân gian
    • Trang phục truyền thống
    • Nghệ thuật truyền thống
    • Di sản văn hoá
    • Nền nếp sinh hoạt
  • Tôn giáo tín ngưỡng
    • Phật giáo
    • Công giáo
    • Thờ cúng tổ tiên
    • Thờ cúng tổ nghề
    • Tín ngưỡng thờ Thần
    • Tín ngưỡng thờ Mẫu
    • Tôn giáo khác

Menu

  • Trang đầu
  • Giới thiệu
  • Liên hệ

Follow Us

DMCA.com Protection Status
Cổ Phong
No Result
View All Result
Khóa học
Cổ Phong
No Result
View All Result
Home Nghi lễ vòng đời
Thai giao

Bàn về lịch sử vấn đề thai giáo

Thai giáo là một phương pháp giáo dục đặc biệt, dựa trên nền tảng nghiên cứu khoa học, nó tạo ra một môi trường tích cực cả về thể chất và tinh thần nhằm kích thích sự phát triển toàn diện của thai nhi ngay từ khi còn trong bụng mẹ. Nghe vậy, chúng ta cứ ngỡ rằng, thai giáo là một sản phẩm của thời đại mới, của sự phát triển về y tế, khoa học công nghệ,… nhưng thực tế, thông qua những ghi chép cách đây hàng ngàn năm, ta biết được rằng loài người nói chung và người Việt xưa nói riêng đã ứng dụng phương pháp thai giáo một cách khá bài bản.

Văn hoá vốn là sự khác biệt, nhưng trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, không thể phủ nhận rằng văn hoá Trung Quốc đã có ảnh hưởng nhất định tới văn hoá của dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, khi tìm hiểu một vấn đề văn hoá nào đó, chúng ta thường có sự đối sánh với quốc gia láng giềng là như vậy.

Tìm trong kho tàng thư tịch Trung Quốc, một trong những ghi chép sớm về thai giáo là cuốn Liệt nữ truyện[1] của tác giả Lưu Hướng. Trong phần Chu thất tam mẫu (ba người mẹ của nhà Chu), quyển 1 Mẫu nghi truyện, tác giả chép về việc mẹ của Chu Văn Vương – vị vua sáng lập nhà Chu, triều đại có thời gian trị vì lâu nhất trong lịch sử Trung Hoa là gần 800 năm, đã áp dụng phương pháp thai giáo khi mang thai ông: “Thái Nhậm là mẹ của Chu Văn Vương, là con gái của bộ tộc Chí Nhậm. Cơ Quý Lịch lấy bà làm vợ. Tính tình Thái Nhậm đoan trang, chuyên nhất, thành thật, làm việc theo đạo lý, đức hạnh. Sau khi bà mang thai, mắt không xem việc ác, tai không nghe việc tà dâm, miệng không nói lời ngạo mạn để tiến hành thai giáo đối với đứa con trong bụng. Khi bà đi tiểu ở chuồng lợn thì sinh Chu Văn Vương. Sau khi ra đời, Văn Vương rất thông minh lại anh minh. Khi bà dạy bảo Văn Vương, Văn Vương học một biết mười, sau này lập nên Vương triều nhà Chu. Cho nên Bậc quân tử thấy rằng Thái Nhậm giỏi việc thai giáo.”[2]

Không dừng lại ở đó, tác giả còn giới thiệu thêm những lưu ý của người xưa với phụ nữ mang thai nhằm dành những điều tốt đẹp nhất cho con: “Người xưa cho rằng khi mang thai, phụ nữ ngủ không được nằm nghiêng, ngồi phải ngay thẳng, đứng không chắn lối, không ăn món kỳ lạ, thức ăn không chính thống không ăn, ghế không ngay ngắn không ngồi, mắt không xem tà sắc, tai không nghe tiếng dâm loạn, đêm nghe kẻ mù tụng đọc thơ ca, nói điều đứng đắn. Như vậy mới sinh được con có mặt mũi đoan trang, tài đức hơn người. Cho nên khi mang thai cảm nhận sự vật phải nhất định cẩn thận, cảm nhận điều thiện thì đứa con sẽ lương thiện, cảm nhận điều ác thì đứa con sẽ hung ác. Hình tượng và âm thanh của con người và vạn vật có rất nhiều chỗ giống nhau, đại đa số đều là kết quả của người mẹ cảm nhận, cho nên hình dung và âm thanh của đứa con sẽ giống với vạn vật. Thái Nhâm, mẹ của Văn Vương, có thể nói là hiểu được cái đạo lý lấy vạn vật để giáo hóa.” [3]

Sau Chu Văn Vương, một nhân vật lịch sử khác là Mạnh Tử –  ông tổ thứ hai của Nho giáo cũng từng nhận được sự thai giáo từ mẹ của mình. Kinh nghiệm thai giáo của thân mẫu Mạnh Tử được lưu truyền rằng: “Khi mang thai đứa con trong bụng thì phải biết chỗ không bằng phẳng không ngồi, thức ăn không hợp vệ sinh không ăn”. Không dừng lại ở thai giáo, khi đã sinh con, Mạnh Mẫu luôn quan tâm chăm sóc, giáo dục con. Cách dạy con của bà được lưu danh sử sách với câu chuyện “Mạnh mẫu tam thiên” (Mạnh mẫu ba lần chuyển nhà vì muốn tìm cho con một môi trường sống và học tập tốt nhất) và “Đoạn trữ giáo tử” (chặt khung cửi để răn dạy con rằng làm việc gì cũng chuyên tâm rèn luyện, không được lười biếng)

Thời Tuỳ tác giả Sào Nguyên Phương chép trong cuốn Chư bệnh nguyên hậu luận[4] 諸病源候論 một số lưu ý trong việc thai giáo: “Nhâm thần tam nguyệt, danh thủy thai, đương thử thời, huyết lưu bất hành, hình tượng thai hóa, vi hữu định nghĩa, nhân cảm nhi biến. Dục tử đoan chính trang nghiêm, thường khẩu đàm chính ngôn, thân hành chính sự, dục tử mỹ hảo, nghi phối bạch ngọc, dục tử hiền năng, nghi khán thi thư, thị vị ngoại tượng nhi nội cảm dã.” Tức là: “Khi mang thai ba tháng là mới mang thai, thời kỳ này máu chưa lưu thông, hình dạng thai nhi sơ khởi chưa định hình, có thể thay đổi theo cảm xúc. Muốn con đoan chính nghiêm trang, mẹ cần thường nói lời đoan chính, làm điều chính, muốn con xinh đẹp, mẹ cần thường mang theo ngọc bội trắng, muốn con thông tuệ, mẹ cần đọc thi thư, đây gọi là ngoại hướng nội cảm.”[5]

Thông qua một vài những ghi chép như vậy, ta có thể thấy rằng trong lịch sử Trung Quốc, vấn đề thai giáo đã được quan tâm từ rất sớm.

Ở Việt Nam, hầu hết thư tịch còn lưu giữ được đều là từ thời Hậu Lê đến nay. Sách vở thời Lý – Trần gần như đã bị huỷ hoại, thất lạc, đặc biệt trong gần 20 năm thuộc Minh nhiều thư tịch đã bị đốt, phá hoặc mang về Trung Quốc. Trong tác phẩm Văn học Cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật của GS Nguyễn Huệ Chi có đoạn: “Trong sắc chỉ 10 điều của Minh Thành Tổ gửi Tổng binh Chu Năng…, bên cạnh những điều căn dặn tỉ mỉ về cách chế ngự “hoả khí” lợi hại của cha con họ Hồ, về việc tịch thu sổ sách kê khai nhân khẩu và ruộng đất, hoặc đập phá cột đồng trụ,… còn một điều đặc biệt hơn mọi điều kia: “Một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy; ngoài ra hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến cả những loại [sách] ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ, như loại sách có câu “Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá sạch hết thảy, một mảnh một chữ chớ để còn””. Chắc hẳn đây chính là nguyên nhân trong phần tựa của mục Nghệ văn chí thuộc quyển 3, Đại Việt Thông sử, Lê Quý Đôn phải thốt lên rằng: “Nước ta được gọi là nước văn hiến (Nghĩa là nước có văn hoá có sách vở), trên từ vua chúa, dưới đến các quan, cùng nhân dân đều có biên soạn sách vở. Bây giờ họp chung cả lại, chẳng qua còn được ngoài trăm pho sách…”[6] Do vậy, nguồn tư liệu khảo cứu về lịch sử, văn hoá Việt Nam trước thời Hậu Lê khá hạn hẹp. Tuy nhiên, trong kho tàng tư liệu ấy chúng tôi vẫn tìm được một vài ghi chép về vấn đề thai giáo, để thấy được rằng đây cũng là một trong những vấn đề văn hoá quan trọng. Trong tác phẩm Gia huấn ca của Nguyễn Trãi, hay Phụ đạo xán nhiên, Tọa thảo lương mô của danh y Hải Thượng lãn ông Lê Hữu Trác đã ghi lại khá nhiều thông tin về thai giáo. 

Gia huấn ca chép rằng:

“Khi thai sản trong phòng gìn giữ,
Học cổ nhân huấn tử trong thai,
Dâm thanh chớ để vào tai,
Á ngôn chớ chút bợn lời sam sưa!
Từ xuất nhập, khởi cư, hành động,
Có lễ nghi nghiêm trọng đoan trinh
Đứng ngồi chính đại quang minh,
Cho bằng phẳng thế, chớ chênh lệch mình.
Chớ vin cao cũng đừng mang nặng,
Đừng ăn đồ cay đắng canh riêu,
Đừng ăn ít, chớ ăn nhiều,
Nuôi từ trong dạ khỏi điều lo xa.”[7]

Bàn về sự đúng sai trong việc sinh đẻ nuôi nấng của người giàu người nghèo trong cuốn Phụ đạo xán nhiên của Hải thượng lãn ông Lê Hữu Trác: “… khi mẹ lạnh thì con cũng lạnh, khi mẹ nóng thì con cũng nóng, khi ở trong thai đã từng trải đủ gió sương, mưa nắng. Vả lại do người mẹ nhiều lo toan thì thần khí thường thu liễm sau khi đẻ ra da thịt đầy sân, gân cốt ruột gan đều rắn chắc, ngoại tả khó mà lấn vào. Nhà giầu ăn ngon mặc đẹp chân tay thân thể tạng phủ đều non nớt. Bẩm khí tiên thiên đã mềm yếu, khí hậu thiên lại bồi bổ bằng nhiều chất ngon béo, no ấm quá mức, ở những nơi nhà cao cửa rộng, lỗ chân lông sưa hở, tà lục dâm dễ thấm vào, chứng ngoại cảm và nội thương luôn luôn tác hại cho thân thể, lại lạm dụng thuốc làm cho tiêu hao để thêm hư yếu, có khác gì những cỏ cây trong chỗ rợp không có ánh sáng mặt trời, thì không thể nào xanh tốt được, sinh ra đứa trẻ đó tuy có trưởng thành được, cũng vẫn nhiều tật bệnh.”[8]

Về sau, các cuốn sách về văn hoá, phong tục của các tác gia người Việt cũng chép khá chi tiết về thai giáo. Trong cuốn Nếp cũ – Con người Việt Nam, phong tục cổ truyền, Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Toan Ánh cho biết: “Và ngay từ lúc còn là bào thai trong bụng mẹ, con người cũng đã phải chịu một sự giáo dục của người mẹ. Đó là thai giáo. Vấn đề thai giáo đối với ta cũng rất quan trọng, một phần vì sức khoẻ của người mẹ, một phần vì mọi tư tưởng và hành động của người mẹ trong lúc có thai đều có thể ảnh hưởng tới bào thai trong bụng.”[9]

“… trong lúc mang thai, người đàn bà phải bó buộc làm nhiều việc xưa nay không làm, và phải riêng nhiều điều xưa nay không cần kiêng.

Mọi người cho rằng sự ăn không ngồi rồi hại cho sức khỏe của người mang thai, và do đó ảnh hưởng tới cả bào thai. Trong lúc có thai người đàn bà nên hoạt động tay chân, bằng việc làm. Nhiều gia đình khá giả, xưa nay người đàn bà không phải làm lụng nhiều, trong lúc có thai cũng phải bày đặt công việc ra để cho chân tay cử động.

Việc kiêng cữ, trong lúc mang thai, rất nhiều. Đầu tiên trong sự ẩm thực phải tránh những đồ quá bổ béo, e cái thai quá lớn khó sinh. Ngoài ra, theo sự mê tín trong dân gian phải kiêng: ăn cua để tránh sinh ngang; ăn trai sò, ốc hến để tránh con nhiều dãi dớt; ăn thịt thỏ để tránh khỏi sinh con sứt môi; ăn những đồ ăn, hoa quả, bánh trái cúng một đám tang hay một đám cưới, để tránh con khỏi bị chứng sài; ăn những quả sinh đôi, để tránh sự đẻ song thai; ăn những thịt ôi, hoa quả úa, có hại cho sức khoẻ và do đó tới bào thai,…”[10]

Không chỉ trong vấn đề ăn uống ngủ nghỉ mà người xưa còn quan niệm rằng đứa bé trong bụng mẹ không ngủ triền miên mà cũng có lúc thức giấc và nghe những điều người mẹ nghe, cảm nhận những thứ mẹ chạm vào. Bởi vậy người đàn bà có thai phải tránh mọi cảnh tượng hãi hùng hay đau đớn; mọi cử động gian tà; mọi ngôn ngữ thô bỉ; mọi sự nổi giận; mọi tranh ảnh bất chính; mọi sự kêu gào để cho cái thai khỏi lây ảnh hưởng xấu. Đồng thời người đàn bà phải nói năng dịu dàng, cử chỉ khoan thai, luôn luôn tươi cười, giữ cho tâm hồn ngay thẳng trong sạch, trong nhà treo tranh ảnh các vị anh hùng, các vĩ nhân, các bà mẹ hiền từ cùng những phong cảnh cao nhã thanh khiết, ngõ hầu gây một ảnh hưởng tốt đẹp cho đứa con mai hậu.

Qua những ghi chép trên, ta thấy rằng, trong nếp sinh hoạt phong tục xưa của người Việt vấn đề thai giáo rất được chú trọng. Tuy vậy khác với thai giáo nay thai giáo xưa chủ yếu tập trung vào việc điều chỉnh dinh dưỡng, sinh hoạt và tâm trạng của người mẹ. Người mẹ cần điều tiết tình cảm phù hợp, suy nghĩ lạc quan, tránh cáu giận, điều tiết ăn uống nên ăn đủ dinh dưỡng, tránh đồ hàn lạnh đồng thời kết hợp lao động vừa phải, nghỉ ngơi đầy đủ không làm quá sức. Thai giáo hiện nay tập trung vào việc “giao tiếp” giữa mẹ và con, đôi khi là tiếng thủ thỉ tâm tình, lời hát ru cũng có lúc là bản nhạc giao hưởng du dương… giúp con cảm nhận được tình yêu thương, sự mong chờ, kỳ vọng của cha mẹ và gia đình đối với sự ra đời của con. Dù vậy, những bài học, kinh nghiệm thai giáo xưa ở một góc độ nào đó vẫn có những yếu tố phù hợp mà nay có thể học hỏi, kế thừa và tiếp thu.

Lợi Lê

Chú thích

[1] Liệt nữ truyện: Là bộ sách giới thiệu hành vi của phụ nữ Trung Quốc cổ đại. Sách do tác giả Lưu Hướng là học giả Nho gia thời Tây Hán biên soạn vào năm 18 TCN đời Hán Thành Đế. Tuy nhiên, có người cho rằng toàn bộ sách này không phải do chính Lưu Hướng viết nên, một quyển tụng văn (đoạn văn khen ngợi thường viết ở đầu trang sách) kèm theo trước tác tương truyền là do Lưu Hâm soạn ra, trong phiên bản lưu hành hiện nay do Sái Kỳ thời Nam Tống biên soạn lại, cộng thêm phần khen ngợi trong bảy quyển của nguyên tác, bên cạnh tám quyển bổ sung của Tục Liệt nữ truyện. Do có một vài phiên bản của tác giả vẫn còn đánh dấu khuyết danh. Cũng có người cho rằng, phiên bản lưu truyền hiện tại là do người đời sau mượn danh Lưu Hướng mà viết thêm một số thiên vào đầu trang sách.

[2] Lưu Hướng, Liệt nữ truyện, Tống Như Cường dịch, Nxb Hồng Đức, tr. 22.

[3] Lưu Hướng, Liệt nữ truyện, Sđd, tr. 22.

[4] Chư bệnh nguyên hậu luận: Là một chuyên khảo được cho là do thái y Sào Nguyên Phương soạn vào thời nhà Tuỳ (581 – 618) bao gồm năm mươi quyển, bàn luận về khoảng 1739 hội chứng và 67 loại bệnh tật. Đây được cho là bộ bách khoa toàn thư y học lâu đời nhất còn tồn tại về nguyên nhân học và triệu chứng thực thể trong y học cổ truyền Trung Quốc.

[5] Thanh Sơn, “Bàn về thai giáo truyền thống”, chanhkien.org, 4/1/2025.

[6] Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Nxb Văn hoá – Thông tin 2007, tr. 123.

[7] Nguyễn Trãi, Gia huấn ca, Thi nham Đinh Gia Thuyết đính chính và chú thích, Sách giáo khoa Tân Việt, in lần thứ 3, 1953, tr. 19.

[8] Hải Thượng lãn ông Lê Hữu Trác, Hải thượng y tông tâm lĩnh, tập I, Nxb Y Học, 2005, tr. 238.

[9] Toan Ánh, Nếp cũ – Con người Việt Nam, phong tục cổ truyền, Nhà sách khai trí, 1970, tr. 28.

[10] Toan Ánh, Nếp cũ – Con người Việt Nam, phong tục cổ truyền, Sđd, tr. 28 – 29.

Tài liệu tham khảo

  1. Toan Ánh (1970), Nếp cũ – Con người Việt Nam, phong tục cổ truyền, Nhà sách khai trí.
  2. Lê Quý Đôn (2007), Đại Việt thông sử, Nxb Văn hoá – Thông tin.
  3. Lưu Hướng, Liệt nữ truyện, Tống Như Cường dịch, Nxb Hồng Đức.
  4. Nguyễn Mạnh Linh (2009), Thọ mai sinh tử – phong tục dân gian về sinh nở, cưới hỏi, trường thọ, ma chay, Nxb Văn hoá – Thông tin.
  5. Thanh Sơn, “Bàn về thai giáo truyền thống”, chanhkien.org, 4/1/2025.
  6. Hải Thượng lãn ông Lê Hữu Trác (2005), Hải thượng y tông tâm lĩnh, tập I, Nxb Y Học.
  7. Nguyễn Trãi (1953), Gia huấn ca, Thi nham Đinh Gia Thuyết đính chính và chú thích, Sách giáo khoa Tân Việt, in lần thứ 3.
ShareTweet

Để lại một bình luận Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


No Result
View All Result
  • Nghi lễ vòng đời
    • Hôn lễ
    • Sinh con
    • Động thổ làm nhà
    • Mừng thọ và sinh nhật
    • Tang ma
    • Ngày giỗ
  • Nghi lễ hàng năm
    • Dịp Tết Nguyên Đán 1/1
    • Dâng sao giải hạn 15/1
    • Nguyên tiêu 15/1
    • Tết Thanh minh 3/3
    • Tết Hàn thực 3/3
    • Tết Đoan ngọ 5/5
    • Lễ Thất Tịch 7/7
    • Lễ Vu Lan 15/7
    • Tết Trung Nguyên 15/7
    • Tết Trung thu 15/8
    • Tết Trùng Cửu 9/9
    • Tết Cơm mới (10-15/10)
    • Tết Táo Quân 23/12
    • Ngày mùng 1 hàng tháng
    • Ngày rằm hàng tháng
  • Đặc trưng văn hóa Việt
    • Chữ và Nghĩa
    • Phong tục thờ cúng
    • Văn hóa giao tiếp
    • Món ăn truyền thống
    • Trò chơi dân gian
    • Trang phục truyền thống
    • Nghệ thuật truyền thống
    • Di sản văn hoá
    • Nền nếp sinh hoạt
  • Tôn giáo tín ngưỡng
    • Phật giáo
    • Công giáo
    • Thờ cúng tổ tiên
    • Thờ cúng tổ nghề
    • Tín ngưỡng thờ Thần
    • Tín ngưỡng thờ Mẫu
    • Tôn giáo khác

© 2021 cophong.vn