Dẫn nhập
Trong xã hội hiện đại, việc kết hôn rồi ly thân hay ly hôn đã trở thành những hiện tượng không còn hiếm gặp, cũng không còn bị xem là vấn đề quá khó khăn hay nghiêm trọng như trong xã hội phong kiến. Với sự phát triển của hệ thống pháp luật dân sự và những thay đổi trong quan niệm xã hội về hôn nhân, người ta dễ dàng chấm dứt một mối quan hệ hôn nhân hơn khi không còn hạnh phúc.
Ly hôn và ly thân tuy đều phản ánh sự rạn nứt trong quan hệ vợ chồng và gợi đến hình ảnh một cuộc hôn nhân đang đứng bên bờ tan vỡ, nhưng hai khái niệm này lại mang những sắc thái riêng biệt về mức độ và hậu quả pháp lý lẫn hệ quả xã hội.
Khái niệm
Ly hôn
“Ly” (離) nghĩa là lìa, rời xa; “Hôn” (婚) nghĩa là cưới hỏi, kết hôn. Theo Từ điển Hán Nôm, “ly hôn” (離婚) được hiểu là rời bỏ nhau, không còn là vợ chồng nữa.
Theo C. Mac và Ph. Ăng Ghen có nói:
Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện: cuộc hôn nhân này là cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối.”[1]
Ly hôn, hay còn gọi là ly dị, là việc hai người đã kết hôn hợp pháp (có đăng ký kết hôn) được Tòa án ra phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên. Kể từ thời điểm phán quyết có hiệu lực, quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng chính thức chấm dứt về mặt pháp lý, họ không còn ràng buộc về quyền và nghĩa vụ vợ chồng, ngoại trừ trách nhiệm chung đối với con cái.
Trong Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Hoàng Phê, tác giả định nghĩa:
Ly hôn: vợ chồng bỏ nhau một cách hợp pháp[2].”
Còn trong cuốn Việt Nam Tự Điển, khái niệm này được giải thích rõ hơn: “Ly dị: nói vợ chồng lìa bỏ nhau, làm đơn ra tòa xin ly dị; ly hôn đồng nghĩa với ly dị[3].” Hai định nghĩa trên cho thấy, ly hôn hay ly dị đều được hiểu là việc vợ chồng chấm dứt quan hệ hôn nhân hợp pháp thông qua quyết định của tòa án, khẳng định tính pháp lý và thủ tục chính thức của hành vi này.
Trong cuốn sách Gia lễ xưa và nay, tác giả Phạm Côn Sơn có đề cập đến nguồn gốc của các thuật ngữ liên quan đến hôn nhân rằng:
Giá” có nghĩa là gả chồng, “Thú” là cưới vợ. “Giá Thú” nói chung là chuyện dựng vợ gả chồng cho trai gái. Trong thời Pháp thuộc, tờ “Giá Thú” là giấy chứng nhận kết hôn do chính quyền địa phương cấp. Đến thập niên 1950, tờ chứng nhận này mang tính pháp lý và được gọi là “Giấy Hôn Thú”, ngày nay là “Giấy Đăng ký kết hôn[4]”.
Tương tự như việc kết hôn, ly hôn cũng cần tuân thủ đầy đủ thủ tục pháp lý tương ứng. Theo quy định pháp luật, Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ban hành phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân. Phán quyết ly hôn của Tòa án có thể được ban hành dưới hai hình thức: bản án hoặc quyết định. Cụ thể, trong trường hợp hai vợ chồng thuận tình ly hôn và đã đạt được thỏa thuận về tất cả các vấn đề liên quan (tài sản, con cái, nghĩa vụ khác), Tòa án sẽ công nhận sự thuận tình này và ban hành phán quyết dưới hình thức quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Ngược lại, nếu giữa hai bên tồn tại mâu thuẫn, tranh chấp về quyền và nghĩa vụ khi ly hôn, Tòa án sẽ xem xét, xét xử và ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn.
Sau khi có hiệu lực pháp lý, quyết định này sẽ làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng, giấy chứng nhận kết hôn bị hủy bỏ, đồng thời mỗi bên có quyền kết hôn với người khác. Đây không đơn thuần là sự kết thúc của một mối quan hệ pháp lý, mà còn khép lại một hành trình gắn bó, sẻ chia trong đời sống chung. Tuy vậy, ly hôn cũng có thể được nhìn nhận như một bước ngoặt một khởi đầu mới, trao cho mỗi người cơ hội tìm lại sự bình yên và hạnh phúc riêng.
Ly thân
Khác với ly hôn, ly thân là một biện pháp tạm thời cho phép vợ chồng sống riêng, tách biệt khi giữa họ phát sinh mâu thuẫn trầm trọng đến mức không thể tiếp tục chung sống, nhưng chưa đi đến quyết định chấm dứt hôn nhân (ly hôn, ly dị) và không cần phải thông qua tòa án. Do vậy, khi chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý, nên trong thời gian này, hai bên vẫn được coi là vợ chồng theo quy định của pháp luật và không được phép kết hôn với người khác.
Theo Từ điển tiếng Việt của GS Hoàng Phê, “ly thân” được định nghĩa là:
Vợ chồng không còn có quan hệ tình cảm và sinh hoạt vợ chồng do bất hòa, vợ chồng sống ly thân[5].”
Trong thực tế, nhiều cặp vợ chồng thường tự thỏa thuận về việc sống riêng, phân chia tạm thời tài sản, quyền và nghĩa vụ đối với con cái cũng như trách nhiệm gia đình. Như vậy, ly thân là một hình thức sống riêng biệt, cho phép các bên có sự độc lập nhất định về tài chính và sinh hoạt, nhưng vẫn giữ nguyên mối quan hệ vợ chồng trên phương diện pháp lý. Ở góc độ này, ly thân được xem như một giải pháp nhằm “giải tỏa” căng thẳng, tránh xung đột và hạn chế những hậu quả đáng tiếc. Nó mở ra cơ hội để cả hai bên suy nghĩ lại, nhìn nhận nghiêm túc về hôn nhân, và có thể là bước đệm để tái hợp nếu còn khả năng hàn gắn. Đây được coi là một giai đoạn thử thách cuối cùng trước khi vợ chồng đưa ra quyết định có nên chấm dứt quan hệ hôn nhân hay không.
Kết luận
Ly hôn và ly thân đều là những giải pháp được lựa chọn khi hôn nhân rơi vào khủng hoảng, nhưng bản chất và hệ quả của chúng lại hoàn toàn khác nhau. Ly thân chỉ mang tính chất tạm thời, tạo khoảng cách để vợ chồng suy ngẫm, cân nhắc và có thể hàn gắn, trong khi ly hôn là quyết định dứt khoát chấm dứt quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý và thực tế. Dù ở bất kỳ góc độ nào, cả hai đều là những lựa chọn đầy trăn trở, phản ánh những biến động sâu sắc trong đời sống hôn nhân gia đình. Đằng sau mỗi quyết định ấy là những câu chuyện về tình yêu, sự hy sinh, mâu thuẫn và cả khát vọng được sống hạnh phúc, trọn vẹn.
[1] C. Mác và Ph. Ăng Ghen, Toàn tập, tập 1, Nxb chính trị Quốc gia, 1993.
[2] GS Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2020, tr. 757.
[3] Việt Nam Tự điển, do Lê Hữu Đức cùng một nhóm Văn Hữu soạn, Nxb Khai Trí (1970), tr. 305.
[4] Phạm Côn Sơn, Gia lễ xưa và nay, Nxb Thanh Niên, 2005, tr. 27.
[5] GS Hoàng Phê (Chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Sđd, tr. 757.
Tài liệu tham khảo
- Vũ Bằng (1971), Nói có sách, Nxb Nguyễn Đình Vượng.
- Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, Nxb Văn học.
- GS Hoàng Phê (Chủ biên), 2020, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.
- Phạm Côn Sơn (2005), Gia Lễ Xưa Và Nay, Nxb Thanh Niên.
- Việt Nam Tự điển, do Lê Hữu Đức cùng một nhóm Văn Hữu soạn, Nxb Khai Trí (1970).

