Thủy Nguyễn
Dẫn nhập
“Sinh – lão – bệnh – tử” nằm trong quy luật Khổ đế[1] của giáo lý đạo Phật, phản ánh một chân lý phổ quát rằng mọi sự tồn tại trong vũ trụ, bao gồm con người đều mang bản chất khổ, vô thường và không trọn vẹn. “Khổ” không chỉ là nỗi đau thể xác hay tinh thần, mà còn gắn liền với bản chất hiện hữu.
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến vô số các đại dịch quét qua, để lại những tổn thất nặng nề cả về sinh mạng lẫn tinh thần. Trước những hiểm họa mà nền y học bấy giờ chưa đủ khả năng cứu chữa, con người buộc phải tìm đến chốn nương tựa cuối cùng là những nghi lễ tâm linh.
Thông qua những nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng như cầu an, trừ tà, hay tống ôn, con người không chỉ tìm kiếm sự che chở từ thế giới siêu nhiên mà còn gửi gắm vào đó hy vọng, niềm tin và sự an ủi trước những bất trắc của kiếp người. Trong nội dung bài viết này người soạn đưa độc giả tìm hiểu về một nghi lễ xua đuổi ôn dịch cổ xưa – Nghi lễ Na.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghi lễ Na là một nghi thức trừ ôn dịch, thanh tẩy không gian, thường được tổ chức vào thời điểm cuối năm để tiễn trừ điều dữ, nghênh đón cát tường. Nghi lễ này từng hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam, là sự kết hợp của nghi lễ, tôn giáo và tín ngưỡng dân gian. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, trong nước chưa có công trình nghiên cứu về nghi lễ Na này.
Cũng phải nhìn vào thực tế rằng các nguồn tư liệu Hán Nôm của Việt Nam từ trước thời Lê sơ (thế kỷ XV) hiện hầu như không còn. Sự thiếu hụt tư liệu này là một khoảng trống lớn trong việc khảo cứu lịch sử, quy mô của nghi lễ Na tại Việt Nam những thời kỳ trước. Hiện tại, nghi lễ này đã biến mất hoàn toàn ở các vùng đồng bằng tập trung đông dân cư, và chỉ còn lại tàn dư ở một số cộng đồng dân tộc thiểu số dưới dạng nghi thức trừ tà hỗn dung với các yếu tố bản địa.
Do vậy, để tiếp cận và nghiên cứu nghi lễ này, tác giả phải mở rộng phạm vi khảo cứu sang Trung Quốc, nơi nghi lễ này hình thành và phát triển. Với nền tảng đồ sộ sử liệu, Hán văn cổ, tại đây, các công trình nghiên cứu về Na chủ yếu tiếp cận từ góc độ tổng thể văn hóa phức hợp chứ không giới hạn trong phạm vi nghi lễ. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu thời gian gần đây như: Tuyển tập về tế lễ và kịch nghệ: Tuyển chọn các bài luận văn trong 30 năm của Hội Nghiên cứu Na hí Trung Quốc do Lưu Trinh chủ biên (2018), nội dung bao gồm các khảo sát thực địa về nghi lễ Na, Na hí, Na vũ,…; Cổ Na tân luận do Ma Quốc Quân và Hướng Thừa Cường biên soạn (2016), cuốn sách tập hợp 61 bài luận từ Liên hoan nghệ thuật văn hóa Na Cát Lão lần đầu tiên Trung Quốc và Hội thảo học thuật quốc tế về văn hóa Na tại Đạo Chân, Quý Châu, gồm các thành quả nghiên cứu mới nhất trong và ngoài nước về Na, Na hí, lịch sử, văn hóa Na; Lịch sử phát triển và nghiên cứu hình thái nghệ thuật của Na hí Trung Quốc do Giáo sư Chu Hằng Phu biên soạn (2023), cuốn sách nghiên cứu tiến trình phát triển của Na hí từ thời Chu đến hiện đại, sự hình thành và các loại hình chủ yếu của Na hí;…
Nguồn gốc
Nghi lễ Na là một hình thức trừ dịch, tống ôn nguyên thủy trong văn hóa cổ truyền Trung Quốc, thường được tổ chức vào cuối tháng Chạp (tháng 12 Âm lịch) nhằm xua đuổi tà khí, loại trừ dịch bệnh và cầu phúc an dân. Tác giả Mã Nam Thôn[2] trong tác phẩm Yên Sơn dạ thoại (燕山夜话)[3] chương 40: Thủ tuế ẩm Đồ Tô, nhận định:
“驱傩的意思是要驱逐疫疠之鬼,与我们现在说的送瘟神的意思相同。这表明了我们的祖先经常受到疫疠的侵袭和威胁,他们为了保全自己和子孙的生命,不能不千方百计地向疫疠进行斗争。” (马南邨 2019)/ “Khu/khua Na có nghĩa là xua đuổi các loại quỷ gây ôn dịch, tương tự như ý nghĩa của việc tiễn Ôn thần mà chúng ta nói ngày nay. Điều này cho thấy tổ tiên chúng ta thường xuyên bị dịch bệnh tấn công và đe dọa, tổ tiên chúng ta, vì để bảo vệ tính mạng của bản thân và con cháu, không thể không tìm mọi cách để chống lại ôn dịch.”
Vì sao nghi lễ này được gọi là Na? Ban đầu, chữ dịch bệnh được viết là 難/Nạn, nghi lễ 難/Nạn chính là lễ 儺/Na. Phần chú giải 難/Nạn trong sách Chu lễ (周禮)[4], chú giả Trịnh Khang Thành[5] cuối thời Đông Hán (25 – 220) đã lý giải như sau:
“故書難或為儺。杜子春, 難讀為難問之難。其字當作儺。” (鄭康成 1806: 73) / “Trong sách cũ, chữ “難/Nạn” có lẽ là chữ “儺/Na”. Đỗ Tử Xuân[6] đọc chữ “難/Nạn” là chữ “難/Nạn” trong “難問/Vấn Nạn”. Chữ đó nên là chữ “儺/Na”.”
Theo nhận định này của Trịnh Khang Thành thì khi nói đến lễ trừ dịch, chữ “難” không nên hiểu là “nạn” hay “vấn nạn” mà phải hiểu theo đúng nghĩa là 儺/Na – nghi lễ xua đuổi tà dịch, và chữ 難/Nạn vốn nên viết là 儺/Na. Từ đó, có thể khẳng định 難/Nạn và 儺/Na khi nói về nghi lễ trừ dịch thực chất là một.
Nghi lễ Na có từ khi nào? Đã có nhiều giả thuyết đặt ra về sự hình thành của nghi lễ Na, nhưng cho đến thời điểm hiện tại chưa thể khẳng định được nghi lễ này có từ bao giờ. Những ghi chép sớm nhất về nghi lễ này là vào thời Tây Chu (1046 TCN – 771 TCN) trong sách Chu lễ, chú giả Trịnh Khang Thành viết:
“時難四時,方相氏以難卻凶惡也。月合季冬命國難,索度也。” (鄭康成 1806: 36)/ “Ôn dịch diễn ra bốn mùa, Phương Tương Thị[7] dùng lễ Nạn để xua đuổi điều hung ác. Vào tháng cuối mùa đông, ban mệnh lệnh định nghi lễ Nạn ban hành cả nước, để tìm kiếm và tra xét.”
Bốn mùa đều có dịch bệnh, vì vậy đều phải cử hành nghi lễ Na, trong đó nghi lễ trừ dịch có quy mô lớn nhất (toàn quốc) được tổ chức vào cuối mùa đông, được gọi là Đại Na (大儺). Về nguyên do trừ dịch, theo quan niệm xưa, “khí” là yếu tố căn bản hình thành, vận hành vũ trụ; gồm hai thuộc tính đối lập là âm và dương. Mùa đông luôn bị xem là thời điểm âm thịnh dương suy, khiến cho trật tự tự nhiên bị đảo lộn, dẫn đến nhiều bệnh dịch.[8] Ngoài ra, thời này cũng quan niệm ác mộng cũng là một trong những nguyên nhân gây ra dịch bệnh. Trong phần Chiêm mộng[9] sách Chu lễ có nhắc tới việc quan Chiêm mộng bói mộng cho vua và bá quan trong triều, khi bói ra mộng dữ quan Chiêm mộng liền phát lệnh bắt đầu trừ dịch. Như vậy, vào thời nhà Chu, nghi lễ đại Na cuối năm phải được thực hiện sau khi Chiêm mộng.[10] Tuy nhiên, trong phần chú giải, Trịnh Khang Thành chỉ chép về 3 lễ Na được tổ chức vào cuối xuân, sau ngày thu phân và cuối đông, mà không đề cập đến lễ vào mùa hạ. Tương tự, các nguồn tư liệu trở về sau như Lễ ký và Tùy thư cũng chỉ xác nhận ba thời điểm diễn ra lễ Na trong năm như trên. Người soạn hiện chưa tra cứu được tư liệu liên quan đến lễ Na mùa hạ nên vấn đề này vẫn còn để ngỏ. Rất mong nhận được sự đóng góp tư liệu, ý kiến từ quý độc giả và các nhà nghiên cứu để cùng làm sáng tỏ nội dung này.
Nghi lễ Na qua các triều đại
Thời Tây Chu (1046 TCN – 771 TCN)
Lễ Na tổ chức vào thời Tây Chu trong sách Chu lễ chương Hạ quan – Phương Tương Thị như sau:
“方相氏掌蒙熊皮、黃金四目。元衣朱裳執戈揚盾。飾百隷而時難。以索室歛疫。” (鄭康成 1806: 36)/ “Phương Tương Thị bàn thay phủ da gấu, gắn bốn con mắt bằng vàng. Mặc áo đen thường đỏ, tay cầm giáo giương khiên. Dẫn theo hàng trăm người hầu đúng thời thực hiện lễ “Nạn”. Tiến vào từng gian phòng để gom tà, đuổi dịch bệnh.”
Người chỉ huy chính trong lễ trừ tà thời nhà Tây Chu là Phương Tương Thị, tay phủ da gấu, gắn bốn mắt vàng, mặc áo đen thường đỏ, cầm kích và khiên, dẫn theo trăm người. Phương Tương Thị hóa thân thành gấu được nhiều học giả, trong đó có Tôn Tác Vân lý giải dựa trên mối liên hệ giữa dòng tộc Chu và tín ngưỡng thờ vật tổ cổ xưa. Theo đó, gấu được xem là vật tổ của thị tộc Hữu Hùng[11] của Hoàng Đế[12], nhà Chu coi Hoàng Đế là tiên tổ. Do đó, việc sử dụng bao tay da gấu cùng bốn mắt vàng trong nghi lễ không đơn thuần là tạo hình kỳ dị mà mang ý nghĩa triệu thỉnh linh lực tổ tiên bảo hộ và trấn áp tà khí.[13] Về trang phục, áo đen thường đỏ của Phương Tương Thị là biến thể của Tước Biện phục, một loại lễ phục cao cấp thời Chu, chuyên dùng trong các nghi lễ tế tự long trọng.
Sách Lễ ký (禮記)[14], quyển 6: Nguyệt lệnh chép:
“命有司大儺,下及庶民皆,儺也。季冬二陽生,陰氣方盛,故使民間大儺,逐陰氣也。旁磔殺牲,徧裂之。季春儺,儺惟國都九門磔,穰今旁及四方也。” (郝敬 1616: 44) / “Ra lệnh cho các quan chức thực hiện lễ Đại Na, xuống đến cả dân thường đều thực hiện lễ Na. Cuối đông, hai khí dương sinh ra[15], khí âm vẫn còn mạnh, nên cho dân gian thực hiện lễ Đại Na để xua đuổi khí âm. Khắp nơi mổ xẻ, giết súc vật, xé xác chúng ra và bày trí nhiều nơi. Lễ Na cuối xuân, trừ dịch chỉ thực hiện ở cửu môn[16], nay đã mở rộng ra khắp bốn phương.”
Triều đình ban lệnh cho quan chuyên trách lễ Đại Na tổ chức nghi lễ trên toàn quốc. Từ quan lại cấp dưới cho đến thứ dân trong thiên hạ, ai nấy đều phải thực hiện lễ này. Theo quan niệm âm dương, vào cuối mùa đông, khí dương bắt đầu sinh trưởng nhưng khí âm vẫn còn thịnh dễ gây bệnh tật, nên dân gian tổ chức lễ Đại Na với mục đích xua đuổi tà khí. Trong buổi lễ, người ta dựng các hình nhân đại diện cho ma quỷ, tai họa và điều xấu ở hai bên đường. Sau đó, tiến hành giết vật tế để cúng tế thần linh hoặc tà thần, rồi xé xác chúng ra, rải khắp nơi để xua đuổi tà ma, tẩy rửa không gian sống, đẩy lùi điều dữ. Trước kia, lễ Na thường chỉ tổ chức quy mô nhỏ tại cung cấm, vị trí trọng yếu của kinh đô, về sau nghi lễ được mở rộng ra cả bốn phương, các vùng miền từ trung ương đến địa phương.
Thời Chiến Quốc (475 TCN – 221 TCN)
Sang thế kỷ 5 TCN trong cuốn Luận Ngữ (論語)[17] do các môn đệ của Khổng Tử biên soạn chép về việc người trong làng cử hành lễ Na đuổi dịch bệnh như sau:
“鄉人儺,朝服而立于阼階。” (楊伯峻 1980: 105)/ Người làng làm lễ Na, (Khổng Tử) mặc triều phục đứng bậc thềm phía đông.”
Có thể thấy, lễ Na được tổ chức theo trình tự từ trong ra ngoài, các đội trừ dịch sẽ tiến hành từ khu vực trung tâm có mật độ dân cư cao như đô thị, làng xóm rồi mở rộng dần ra các vùng ven đô và những khu vực ngoại vi ít người sinh sống.
Cuốn Lã thị Xuân Thu (呂氏春秋)[18] của Lã Bất Vi[19] chép về nghi lễ Đại Na được tổ chức ở trong cung nước Tần[20] như sau:
“命有司大儺,旁磔,出土牛,以送寒氣。” (呂不韋 1406: 1)/ “Ra lệnh cho quan phụ trách thực hiện nghi thức Đại Na, giết thịt súc vật mà bày trí ở các nơi, đào đất đắp hình con bò/trâu để xua đuổi hàn khí .”
Tác phẩm Lã thị Xuân Thu, được biên soạn vào thời Chiến Quốc dưới sự chỉ đạo của Lã Bất Vi, có kế thừa và chỉnh lý từ nhiều kinh điển trước đó, bao gồm cả Lễ ký. Đoạn mô tả về nghi lễ Đại Na trong Lã thị Xuân Thu được dẫn lại từ phần Nguyệt lệnh trong Lễ ký, cho thấy nghi lễ này vẫn tiếp tục được duy trì với thể thức truyền thống từ thời Tây Chu.
Nhà Hán (206 TCN – 220)
Vào thời Đông Hán (25 – 220), lễ Na trở thành nghi lễ cố định trong cung điện và vẫn tổ chức theo thể chế nhà Chu. Cuốn Hậu Hán thư (後漢書)[21], chương Lễ nghi chí của Phạm Diệp thời Nam Tống viết về lịch sử thời Đông Hán chép:
“先臘一日,大儺,謂之逐疫。其儀:選中黃門子弟年十歲以上,十二以下,百二十人為侲子。皆赤幘皁製,執大鞀。方相氏黃金四目,蒙熊皮,玄衣朱裳,執戈揚盾。十二獸有衣毛角。中黃門行之,冗從僕射將之,以逐惡鬼于禁中。夜漏上水,朝臣會,侍中、尚書、禦史、謁者、虎賁、羽林郎將執事,皆赤幘陛衛,乘輿禦前殿。黃門令奏曰:“侲子備,請逐疫。”于是中黃門倡,侲子和,曰:“甲作食凶,胇胃食虎,雄伯食魅,騰簡食不詳,攬諸食咎,伯奇食夢,強梁、祖明共食磔死寄生,委隨食觀,錯斷食巨、窮奇、騰根共食蠱。凡使十二神追惡凶,赫女軀,拉女乾,節解女肉,抽女肺腸。女不急去,後者為糧!”因作方相與十二獸儛。歡呼,周遍前後省三過,持炬火,送疫出端門。” (司馬彪, 范晔 ca. 1522 – 1566: 6-7)/ “Trước ngày tổ chức lễ Lạp một ngày, cử hành lễ Đại Na, gọi là trục dịch (đuổi dịch bệnh).[22] Nghi lễ như sau: Tuyển chọn 120 thiếu đồng trong hàng con em Trung hoàng môn[23] từ 10 đến 12 tuổi gọi là Chấn tử[24]. Tất cả đều đội mũ đỏ, mặc áo đen, tay cầm trống sênh lớn. Một người đóng vai Phương Tương Thị đội mặt nạ bốn mắt bằng vàng, đầu đội da gấu, mặc áo đen thường đỏ, tay cầm mâu và khiên. Có 12 thần thú, đều mặc áo lông, có sừng. Lễ do Trung hoàng môn tổ chức, dưới sự điều phối của Nhũng Tòng Phó Xạ[25], thực hiện trừ tà trong khu vực cấm thành. Canh đêm nước đồng hồ dâng cao, các triều thần tề tựu: Thị trung[26], Thượng thư[27], Ngự sử[28], Yết giả[29], Hổ bôn[30], Vũ lâm lang tướng[31],… đều đội mũ đỏ, đứng hầu tại thềm điện, hoàng đế ngự tiền điện. Hoàng môn lệnh tâu: “Chấn tử đã sẵn sàng, xin bắt đầu trục dịch.” Lúc này, Trung hoàng môn hô xướng, Chấn tử hòa giọng hô tên mười hai vị thần, lời xướng như sau:
Giáp ăn hung dữ,
Phế Vị ăn hổ,
Hùng Bá ăn yêu mị,
Đằng Giản ăn điều bất thường,
Lãm Chư ăn điều xấu,
Bá Kỳ ăn giấc mộng,
Cường Lương, Tổ Minh ăn xác chết, ký sinh trạc tử,
Ủy Tùy ăn điều quái dị, kỳ thị,
Thác Đoạn ăn yêu lớn,
Cùng Kỳ, Đằng Căn cùng ăn tà độc.
Phàm sai mười hai thần đuổi ác hung, đốt thân ngươi, xé gan ngươi, xẻ thịt ngươi, rút phổi ruột ngươi. Ngươi không mau đi, kẻ đến sau sẽ làm lương thực!
Sau đó, Phương Tương Thị cùng mười hai thần thú múa trừ tà, hô vang, đi quanh khắp tam khu nội viện. Cầm đuốc rực cháy, họ tiễn tà khí ra cửa Đoan Môn.”
Giai đoạn này, nghi lễ Na trong cung đình được mở rộng và có sự phát triển vượt bậc, vừa kế thừa từ Tây Chu, vừa kết hợp với tín ngưỡng dân gian. Bên cạnh vai trò trung tâm của Phương Tương Thị, còn có sự xuất hiện của 120 Chấn tử làm lực lượng phụ trợ chú thỉnh mười hai thần thú tiêu diệt các loại tà dịch. Việc thỉnh các thần thú tiêu diệt các loại yêu tà, dịch bệnh được xem là một nội dung quan trọng trong nghi lễ Na thời kỳ này cho đến tận cuối thời Tùy (581 – 619).
Trong sách Tùy thư (隋書)[32] của Ngụy Chính biên soạn năm 636 chép về nghi lễ đuổi ôn dịch thời Nam Bắc triều[33] đến thời nhà Tùy (581 – 619) như sau:
Bắc Tề (550 – 577):
“齊製,季冬晦,選樂人子弟十歲以上十二以下為侲子,合二百四十人。一百二十人,赤幘、皁褠衣,執鞀。一百二十人赤布褲褶,執鞞角。方相氏黃金四目,熊皮蒙首,玄衣硃裳,執戈揚楯。又作窮奇、祖明之類,凡十二獸,皆有毛角。鼓吹 令率之,中黃門行之,冗從僕射將之,以逐惡鬼于禁中。其日戊夜三唱,開諸里門,儺者各集,被服器仗以待事。戊夜四唱,開諸城門,二衛皆嚴。上水一刻,皇帝常服,即禦座。王公執事官第一品已下、從六品已上,陪列預觀。儺者鼓噪,入殿西門,遍于禁內。分出二上閣,作方相與十二獸儛戲,喧呼周遍,前後鼓噪。出殿南門,分為六道,出于郭外。” (魏征 ca. 1935 – 1949: 8)/ “Theo quy chế nước Tề, vào ngày cuối tháng Chạp, chọn con em của Nhạc quan từ mười đến dưới mười hai tuổi làm Chấn tử, tổng cộng hai trăm bốn mươi người. Một trăm hai mươi người đội khăn đỏ, mặc áo đen có tà, cầm trống đào. Một trăm hai mươi người mặc quần áo vải đỏ, cầm dùi trống và tù và. Phương Tương Thị đeo mặt nạ vàng bốn mắt, trùm da gấu lên đầu, mặc áo đen váy đỏ, cầm mác giơ khiên. Lại làm hình các loài như Cùng Kỳ, Tổ Minh,… tổng cộng mười hai thần thú, đều có lông và sừng. Quan Cổ xuy lệnh[34] chỉ huy, Trung hoàng môn thực hiện, Nhũng Tòng Phó Xạ dẫn đầu, để đuổi ác quỷ trong cấm cung. Vào đêm ngày Mậu, sau lần xướng thứ ba, mở các cửa khu phố, người làm lễ Na tụ hội, mặc đồ lễ, mang theo pháp khí chờ hành lễ. Sau lần xướng thứ tư, mở hết cửa thành, hai vệ binh đều chỉnh tề. Khi đồng hồ nước lên một khắc, Hoàng đế mặc thường phục, ngồi vào ngai. Các vương công và quan giữ việc từ nhất phẩm trở xuống, tòng lục phẩm trở lên, đều xếp hàng cùng dự xem. Người làm lễ Na đánh trống hô vang, vào điện từ cửa Tây, đi khắp nội cung. Họ chia ra đi lên hai lầu gác, diễn trò múa Phương Tướng cùng mười hai thần thú, hô vang khắp nơi, trống vang rền trước sau. Ra khỏi cửa Nam điện, chia làm sáu ngả, đi ra ngoài thành.”
Bắc Tề do người Tiên Ti[35] sáng lập, tuy không phải chính quyền của người Hán nhưng vẫn duy trì và phát triển nghi lễ Na. Việc kế thừa này, theo người soạn có thể lý giải từ mối liên hệ sâu xa giữa người Tiên Ti và người Hán. Theo sách Tấn thư chép:
“慕容廆,字弈洛瑰,昌黎棘城鮮卑人也。其先有熊氏之苗裔,世居北夷,邑于紫蒙之野,號曰東胡。” (房玄龄 1587: 1) / “Mộ Dung Hối, tự Dịch Lạc Khôi, là người Tiên Ti ở Cức Thành, quận Xương Lê. Tổ tiên ông là dòng dõi của Hữu Hùng thị, nhiều đời cư ngụ ở vùng Bắc Di, lập ấp ở đồng bằng Tử Mông, gọi là Đông Hồ.”
Mộ Dung Hối (269 – 333), là con trai của thủ lĩnh bộ tộc Mộ Dung (Mộ Dung Thiệp Quy), và là người đặt nền móng cho chính quyền Tiền Yên[36]. Theo ghi chép này của sách Tấn Thư thì một nhánh của người Tiên Ti cũng thuộc hậu duệ dòng dõi tộc Hữu Hùng của Hoàng Đế. Chính vì vậy, dù khác biệt về sắc tộc, người Tiên Ti vẫn giữ nghi lễ Na của người Hán do nghi lễ này có ý nghĩa mượn sức mạnh của tổ tiên họ trừ quỷ dịch. Thậm chí, dưới thời Bắc Tề, nghi lễ này còn được tổ chức với quy mô lớn với số lượng Chấn tử lên đến 240 người. Việc vua, các đại thần, vương tôn quý tộc cùng tham dự cho thấy lễ Na không chỉ được trọng vọng mà còn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống nghi lễ cung đình thời này. Một lý giải nữa, là sau khi nam tiến và lập quốc tại trung nguyên[37], người Tiên Ti chuyển từ đời sống du mục sang định cư ở thành thị và canh tác nông nghiệp, từ đó bị đồng hóa ngược lại bởi văn hóa Hán.
Triều Tùy (581 – 619):
“隋製,季春晦,儺,磔牲于宮門及城四門,以禳陰氣。秋分前一日,禳陽氣。季冬傍磔、大儺亦如之。其牲,每門各用羝羊及雄雞一。選侲子,如後齊。冬八隊,二時儺則四隊。問事十二人,赤幘犟衣,執皮鞭。工人二十二人。其一人方相氏,黃金四目,蒙熊皮,玄衣朱裳。其一人為唱師,著皮衣,執棒。鼓角各十。有司預備雄雞、羝羊及酒,于官門為坎。未明,鼓噪以入。方相氏執戈揚盾,周呼鼓噪而出。” (司馬彪, 范晔 ca. 1522 – 1566: 9)/ “Theo quy chế thời Tùy, vào cuối mùa xuân, cử hành lễ Na, giết súc vật tế ở cổng cung và bốn cửa thành để xua đuổi âm khí. Trước ngày Thu phân một ngày[38], làm lễ để trừ dương khí. Cuối mùa đông cũng giết vật tế và tổ chức lễ đại Na như vậy. Vật tế mỗi cổng dùng một con dê đực và một con gà trống. Tuyển chọn các Chấn tử thực hiện nghi lễ, theo lệ hậu Tề[39]. Mùa đông có tám đội, hai mùa còn lại thì chỉ có bốn đội. Có mười hai người phụ trách việc hỏi tội (trừ tà), đội mũ đỏ, mặc áo thô, cầm roi da. Có 22 người phụ việc. Một người đóng vai Phương Tương Thị, đeo mặt nạ vàng có bốn mắt, khoác da gấu, mặc áo đen thường đỏ. Một người làm xướng sư, mặc áo da, cầm gậy. Có mười cái trống và mười ống tù và. Các quan chức chuẩn bị gà trống, dê đực và rượu, đào hố tại quan môn. Trước lúc bình minh, đánh trống, thổi tù và để tiến vào. Người đóng Phương Tương Thị cầm giáo, giơ khiên, hô to, trống dồn dập mà đi ra.”
Sau khi nhà Tùy thống nhất lãnh thổ Trung Hoa vào năm 589, kết thúc gần hai thế kỷ phân tranh giữa Nam và Bắc triều; việc xác lập lại những nghi lễ, thể chế của người Hán là điều cần thiết. Nhà Tùy đã cho tái thiết nghi lễ Na theo thể chế nhà Tây Chu, tổ chức lễ Na vào 3 thời điểm là cuối Đông, cuối Xuân và trước ngày Thu phân một ngày; trong đó, nghi lễ Na lớn nhất vẫn là Đại Na vào cuối Đông. Việc tuyển chọn Chấn tử trong nghi lễ Na thì làm theo thời hậu Tề.
Nhà Đường (618 – 907)
Cuốn Nhạc phủ tạp lục (樂府雜錄)[40] của Đoàn An Tiết[41] thời nhà Đường viết về nghi lễ Na thời nhà Đường như sau:
“用方相四人,戴冠及面具,黃金為四日,衣熊裘,執戈,揚盾,口作儺、儺之聲,以除逐也。右十二人,皆朱發,衣白畫衣。各執麻鞭,辮麻為之,長數尺,振之聲甚厲。乃呼神名,其有甲作,食凶者;胇胃,食虎者;騰簡,食不祥者;攬諸,食咎者;祖明、強梁,共食礫死寄考者;騰根,食蠱者等。侲子五百,小兒為之,衣朱褶、素襦,戴面具,以晦日于紫宸殿前儺,張宮懸樂。太常卿及少卿押樂正到四閣門,丞並太樂署令、鼓吹署令、協律郎並押樂在殿前。事前十日,太常卿並諸官于本寺先閱儺,並遍閱諸樂。其日,大宴三五署官,其朝寮家皆上棚觀之,百姓亦入看,頗謂壯觀也。太常卿上此。歲除前一日,于右金吾龍尾道下重閱,即不用樂也。禦樓時,于金雞竿下打赦鼓一面,鉦一面,以五十人,唱色十下,鼓一下,鉦以千下。” (段安節 1936: 10-11)/ “Bốn người cải trang thành Phương Tương Thị đội mũ đeo mặt nạ, vẽ bốn mắt màu hoàng kim, mặc áo lông gấu, cầm quạt, giơ khiên, miệng kêu tiếng Na, Na để xua đuổi tà ma. Phía bên phải có mười hai người, tất cả đều tóc đỏ, mặc áo trắng có vẽ hoa văn. Mỗi người cầm roi làm bằng sợi gai, dệt từ sợi gai, dài vài thước, khi vung lên tạo ra tiếng vang rất lớn. Sau đó họ gọi tên các vị thần, trong đó có các thần như: Giáp Tá, thần ăn những người làm việc ác; Bái Vị, thần ăn hổ; Đằng Giản, thần ăn những điều không may mắn; Lãm Chư, thần ăn những điều xui xẻo; Tổ Minh, Cường Lương, thần ăn những linh hồn mạnh mẽ, linh hồn yếu, linh hồn chết oan; Đằng Căn, thần ăn những loài yêu quái,…Khoảng năm trăm đứa trẻ nhỏ (Chấn tử) tham gia vào màn múa, đều mặc áo đỏ có nếp gấp, áo trong màu trắng, đeo mặt nạ. Vào ngày cuối tháng (tức ngày 30 âm lịch), thực hiện lễ Na trước điện Tử Thần, bày biện nghi trượng cung đình và treo nhạc cụ. Thái Thường Khanh[42] và Thiếu Khanh[43] phụ trách việc giám sát dàn nhạc. Khi đến cổng Tứ Các, các quan thừa hành mở Ty Đại Nhạc, Ty Cổ Xuy và Hiệp Luật lang cũng đến để áp nhạc tại sân điện. Mười ngày trước sự kiện, Thái Thường Khanh và các quan đến bản tự để duyệt trước nghi lễ Na, đồng thời xem xét hết các loại nhạc. Vào ngày đại yến, có ba đến năm viên chức của các ty trình tấu. Các quan trong triều và gia quyến đều lên lầu để xem, trăm họ cũng được vào dự khán, gọi đó là một cảnh tượng vô cùng tráng lệ. Thái Thường Khanh trình tấu điều này. Vào ngày trước Tết, tại đường đuôi rồng của Hữu Kim Ngô, tiến hành duyệt lại. Nếu thấy không thích hợp thì không dùng âm nhạc. Khi vua ngự lầu, dưới chân cột vàng treo gà (kim kê can), đánh trống xá tội một mặt, chuông đá một mặt. Có năm mươi người hát, chia thành mười giọng, mỗi lần đánh trống một tiếng, chuông đánh một nghìn tiếng.”
Kể từ thời nhà Đường, nghi lễ Na chỉ tổ chức một lần vào cuối đông, lễ Na vào mùa xuân và thu đã bị lược bỏ. Trong nghi lễ, tuy Phương Tương Thị vẫn giữ vai trò trung tâm chủ trì nhưng tín ngưỡng Chung Quỳ có chức năng trừ tà, trừ dịch tương tự cũng bắt đầu xuất hiện như một dấu hiệu báo trước về sự thay thế trong tương lai. Giai đoạn này cũng đánh dấu bước chuyển quan trọng khi các nhạc quan được tham gia trong cấu trúc nghi lễ, phản ánh xu hướng nghệ thuật hóa các nghi thức trừ dịch trong bối cảnh cung đình.
Nhà Tống (960 – 1279)
Sang thời nhà Tống, lễ Na trở thành một nghi lễ có quy mô lớn ở trong cung. Cuốn Đông Kinh Mộng hoa lục (東京夢華錄)[44] của Mạnh Nguyên Lão[45] chép về các nghi lễ cung đình thời Bắc Tống (960 – 1127) viết:
“至除日,禁中呈大儺儀,並用皇城親事官。諸班直戴假面,繡畫色衣,執金槍龍旗。教坊使孟景初,身品魁偉,貫全副金鍍銅甲裝將軍;用鎮殿將軍二人,亦介胄,裝門神;教訪南河炭丑惡魁肥,裝判官;又裝鍾馗、小妹、土地、灶神之類,共千余人,自禁中驅崇出南薰門外,轉龍灣,謂之“埋崇”而罷。” (孟元老 1936: 7) / “Vào ngày trừ tịch, trong hoàng cung cử hành nghi lễ đại Na, đồng thời sử dụng các quan thân cận trong Hoàng thành tham gia. Các thành viên trong các ban trực đều đeo mặt nạ, mặc y phục thêu vẽ rực rỡ, cầm giáo vàng và cờ rồng. Giáo phường[46] sư Mạnh Cảnh Sơ[47], thân hình to lớn, được mặc đầy đủ bộ áo giáp đồng mạ vàng, đóng vai tướng quân trấn điện. Dùng hai người đóng vai tướng giữ cửa, cũng mặc giáp trụ, hóa thân thành môn thần. Người thuộc Giáo phường vùng Nam Hà, hình thể xấu xí, to béo, được hóa trang thành phán quan. Ngoài ra còn có người hóa trang thành Chung Quỳ[48], Tiểu Muội, Thổ Địa[49], Táo Thần[50] và các nhân vật thần linh khác, tổng cộng hơn một ngàn người. Từ trong cung, đoàn người đuổi trừ tà khí ra ngoài cổng Nam Huân, rồi quanh qua Vịnh Rồng, gọi là “chôn tà” và kết thúc nghi lễ.”
Trong sách Mộng Lương lục (夢梁錄)[51] của Ngô Tự Mục, việc ghi chép về nghi lễ Na trong cung đình thời Nam Tống (1127 – 1279) về cơ bản tương tự như thời Bắc Tống (960 – 1127):
“禁中除夜呈大儺儀,並係皇城司諸班直,戴面具,著繡畫雜色衣裝,手執金槍銀戟,畫木刀劍、五色龍鳳、五色旗幟,以樂所伶工裝將軍、符使、判官、鍾馗、六丁六甲神兵、五方鬼使、灶君、土地、門神、神尉等神,自禁中動鼓吹,驅祟出東華門外轉龍池灣,謂之“埋祟”而散。” (吴自牧 1985: 7) / “Đêm trừ tịch trong cấm cung tổ chức trình diễn đại Na nghi, do các ban trực thuộc Hoàng thành ty[52] đảm nhiệm, đội mặt nạ, mặc trang phục thêu vẽ ngũ sắc, tay cầm thương vàng, kích bạc, đao kiếm gỗ vẽ hình, rồng phượng ngũ sắc, cờ xí ngũ sắc. Các nhạc công của Nhạc Sở[53] hóa trang thành các vị thần tướng như tướng quân, phù sứ, phán quan, Chung Quỳ, sáu Đinh sáu Giáp thần binh, sứ giả năm phương, Táo quân, Thổ địa, Môn thần, Thần úy,… Từ trong cấm cung nổi trống thổi kèn, dẫn đoàn đuổi tà ra ngoài cửa Đông Hoa, vòng qua vịnh Long Trì, gọi là chôn vùi tà khí rồi giải tán.”
Dưới thời lưỡng Tống[54], nghi lễ Na trong cung đình đạt quy mô lớn nhất so với các triều đại trước, mang tính lễ hội và quy tụ hàng nghìn người tham gia. Hệ thống thần linh trong nghi lễ cũng được điều chỉnh, nhân vật chủ trì trong nghi lễ vốn là Phương Tương Thị được thay thế bởi Chung Quỳ, quan tế lễ chuyên trách cũng được thay bằng Nhạc quan do các nghệ nhân Giáo phường đảm nhiệm; các Thần thú, Chấn tử chú thỉnh Thần thú cũng được thay bằng các môn thần như: Thổ địa, Táo thần,… Cùng với đó, trong nghi lễ còn có sự tham gia của các đạo sư Phật giáo và Đạo giáo; nhiều tập tục dân gian liên quan đến trừ tà, trừ dịch cũng được tích hợp, khiến nghi lễ trở nên phong phú. Phần lớn các lễ Na diễn ra vào đêm Trừ tịch đều có sự đan xen ca múa, thể hiện rõ xu hướng thế tục hóa và giải trí hóa trong văn hóa cung đình thời kỳ này.
Nghi lễ Na, vốn có nguồn gốc từ tín ngưỡng dân gian với mục đích xua đuổi tà khí, trừ ôn dịch, ban đầu được thực hành thông dụng trong dân gian. Qua quá trình phát triển, nghi lễ này từng bước được thể chế hóa và tiến vào không gian cung đình, dần dần trở thành nghi lễ quy mô lớn. Tuy nhiên, sự hưng thịnh của nghi lễ Na trong cung đình không kéo dài lâu, đặc biệt là sau sự sụp đổ của nhà Tống. Từ thời nhà Nguyên (1271 – 1368) nghi lễ Na trong cung đình hoàn toàn bị cấm, điều này xuất phát từ nền văn hóa du mục phương Bắc chuyên về săn bắt, chinh phạt không có truyền thống trừ dịch. Các dân tộc du mục (như người Hung, Mông Cổ, …) không ở cố định một nơi, khi một vùng đất có dịch bệnh hoặc tài nguyên suy giảm, họ sẽ rời đi. Chính vì không cố định với môi trường cư trú nên họ không phát triển hệ thống y tế hay nỗ lực kiểm soát dịch bệnh lâu dài. Do đó, sau khi thiết lập triều Nguyên, họ kế thừa bộ máy hành chính của nhà Tống nhưng không duy trì, xem trọng các nghi lễ như lễ nhạc, tế tự, trừ tà,… Điều này cũng phản ánh sự xung đột về văn hóa và tín ngưỡng Hán – Mông. Sang đến thời Minh (1368 – 1644), với sự quay trở lại cai trị của người Hán, lễ Na chỉ như ngọn đèn le lói vụt tắt, gần như không thể trở sự phồn thịnh như thời Tống. Đến thời nhà Thanh (1636 – 1912), lễ Na hoàn toàn biến mất khỏi hệ thống lễ nghi chính thống cung đình. Song song với quá trình suy tàn trong cung đình, nghi lễ Na trong dân gian cũng có sự chuyển dịch từ phổ biến ở các vùng đồng bằng phía Bắc trung tâm, dần dần bị thu hẹp và lui về phía Nam. Đến cuối thời Thanh, nghi lễ Na gần như chỉ còn tồn tại trong các dân tộc thiểu số khu vực Tây Nam như Hồ Nam, Hồ Bắc, Tứ Xuyên và Quý Châu.
Nghi lễ Na của người Việt
Trong suốt tiến trình lịch sử, Việt Nam đã thường xuyên phải đối mặt với các cuộc xâm lược từ phương Bắc, trải qua bốn lần Bắc thuộc cùng hàng loạt chính sách đồng hóa dưới nhiều hình thức. Trong bối cảnh ấy, không ít phong tục, lễ nghi của người Hán đã du nhập vào đời sống xã hội nước ta, tự nguyện có, ép buộc cũng có. Một trong số đó là lễ Na, một nghi lễ trừ tà dịch có nguồn gốc từ tín ngưỡng cổ truyền của người Hán.
Đầu thế kỷ XV, quân Minh xâm lược Đại Việt kéo theo một chính sách đồng hóa văn hóa, triệt tiêu văn hóa bản địa; nổi bật là chính sách đốt sách, tiêu hủy văn thư, gây tổn thất lớn cho kho tàng sử liệu, địa chí, phong tục, nghi lễ truyền thống của Đại Việt. Những tài liệu nội sinh của người Việt hoặc mang bản sắc văn hóa dân tộc đều bị thu gom và thiêu hủy; những tài liệu có nguồn gốc Trung Hoa hoặc vô cùng quý hiếm của nước ta thì bị đem về Trung Hoa. Đây cũng chính là nguyên nhân căn bản dẫn đến sự thiếu hụt tư liệu Hán Nôm phục vụ cho việc nghiên cứu nghi lễ Na tại Việt Nam.
Hiện nay, những bộ sách ghi chép về trước thế kỷ XIV là được phục dựng, sao chép lại từ thời Lê Sơ trở về sau, dựa trên truyền khẩu và truyền thuyết dân gian. Trong điều kiện tư liệu hạn chế, người biên khảo chỉ có thể tiếp cận các nguồn tài liệu hiện còn, chủ yếu từ thời Lê Sơ trở về sau cùng một bộ sử do một người Việt ghi chép lại tại Trung Quốc vào thế kỷ XIV. Do đó, việc tái dựng diện mạo và nội dung nghi lễ Na không thể tránh khỏi hạn chế cả về mặt tư liệu và nhận thức học thuật. Trân trọng trưng cầu ý kiến của các học giả, các nhà nghiên cứu và quý độc giả quan tâm nhằm bổ khuyết, hiệu chỉnh cùng nghiên cứu thêm về vấn đề này.
Thế kỷ XIV
Khảo cứu ngược về thời nhà Trần, có bộ An Nam chí lược[55] do Lê Tắc[56] biên soạn khi đang lưu vong tại Trung Quốc, phần phong tục có ghi chép về một nghi lễ được cử hành vào đêm giao thừa ở cung đình nước ta như sau:
Nguyên văn: “呈百戲晚如洞仁宮謁,先是夕僧道入內驅儺。” (黎崱 1884: 11)
Phiên âm: “Trình bách hí vãn như Động Nhân cung yết, tiên thị tịch tăng đạo nhập nội khu Na.”
Dịch nghĩa: “Trình diễn các trò vui muộn tại cung Động Nhân, trước đó vào buổi tối, các nhà sư và đạo sĩ vào trong cung làm lễ khu Na.”
Tác phẩm An Nam chí lược chủ yếu ghi chép tổng hợp về địa lý, lịch sử và văn hóa, trong đó phần đề cập đến phong tục đề cập đến nghi lễ Na khá lược thuật. Tuy vậy, từ những ghi chép ít ỏi này, có thể phần nào nhận diện được nghi lễ Na dưới triều Trần được tổ chức vào đêm giao thừa trong nội cung, với sự tham gia đồng thời của các tu sĩ Phật giáo, đạo sĩ Đạo giáo. Sau khi thực hiện xong nghi lễ Na sẽ đến các tiết mục trình diễn dân gian (trăm trò) ở cung Động Nhân trước đông đảo quần thần. Cấu trúc nghi lễ này vừa có nét tương đồng, lại vừa khác biệt so với mô hình lễ Na trong cung đình Trung Quốc thời Tống. Điểm giống nhau là nghi lễ đều kết hợp các yếu tố thế tục như những tiết mục dân gian truyền thống. Tuy nhiên, sự khác biệt thể hiện rõ ở vai trò người chủ trì, từ thời Tống, nhân vật Phương Tương Thị không còn xuất hiện thay vào đó là Chung Quỳ; trong khi tại Đại Việt, nghi lễ lại do các nhà sư Phật giáo và đạo sĩ Đạo giáo đảm nhiệm. Lý giải điều này đến từ sự dung hợp và bền chặt giữa Phật giáo và Đạo giáo trong xã hội Đại Việt thời Lý – Trần. Triều đình không những trọng dụng cả đạo sĩ lẫn tăng sĩ, mà còn khuyến khích sự giao thoa tư tưởng giữa hai tôn giáo này. Tiêu biểu phải kể đến Tuệ Trung Thượng Sĩ[57], thầy của vua Trần Nhân Tông[58], người đã tiếp thu nhiều tư tưởng Đạo giáo. Để sau này, Thiền phái Trúc Lâm do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập cũng thể hiện rõ tinh thần dung hòa giữa Phật pháp và triết lý sống thuận theo tự nhiên của Đạo giáo. (Trần Nghĩa 2010: 27). Từ đó có thể thấy, người Việt không tiếp thu văn hóa Trung Hoa một cách máy móc, mà từ nền tảng đó chủ động bản địa hóa và sáng tạo. Nghi lễ vốn được sinh ra để phục vụ đời sống tâm linh của con người; muốn bén rễ vào tâm thức cộng đồng, không thể cứ bất biến mà phải biết thích nghi, điều chỉnh phù hợp với đời sống của người Việt.
Thế kỷ XV
Vào thế kỷ XV, thông qua bài thơ Trừ tịch của Nguyễn Trãi ta thấy rằng lễ khu Na đã xuất hiện trong đời sống văn hoá dân gian ở Việt Nam:
Nguyên văn: “終畑直歲荄𡥵眜,炪竹驅儺䔲魯𦖻。” (Nguyễn Trãi 2008: 930)
Dịch Nôm: “Chong đèn chực tuổi cay con mắt, đốt trúc khu Na đắng lỗ tai.”
Thế kỷ XIX
Đầu thế kỷ XIX, trong sách Gia Định thành thông chí[59] một sử liệu quan trọng về vùng đất Nam Bộ thời nhà Nguyễn, quyển 4 phần Phong tục chí, tác giả Trịnh Hoài Đức[60] viết về lễ tết cuối năm ở Nông Nại[61] như sau:
“農耐年節,于臘月二十八夜儺人(俗名耨勅符)擊胡鼓、扣拍闆,十五為群,沿街翱翔。視豪富之家,排闥而入,粘符諸門, 念動神咒,鼓拍齊起,繼以祝賀歌唱之辭。主人即用餚饌茶酒款設,並封錢賞謝。再往他家,亦復如是。至除夕而止,亦驅邪送魅,除舊迎新之意。” (Trịnh Hoài Đức 1999: 360-370) / “Lễ tết cuối năm ở Nông Nại, đêm 28 tháng Chạp, Na nhân (tục gọi là Nậu sắc bùa) đánh trống mọi, gõ phách, một đoàn năm, mười người đi theo dọc đường, thấy nhà hào phú thì đẩy cửa ngõ vào dán lá bùa nơi cửa, niệm thần chú, rồi nổi trống phách lên, hát những lời chúc mừng, chủ nhà dùng cỗ bàn chè rượu khoản đãi và gói tiền thưởng tạ, xong nhà này lại qua nhà khác, cũng làm như vậy, cho đến trừ tịch mới thôi, ấy là có ý đuổi tà ma, tiễn cũ rước mới.” (Trịnh Hoài Đức 2005: 67)
Dịch giả Lê Việt Dũng chú thích rằng:
“Na nhân (儺人): Là người dán bùa, đọc chú cuối năm để trừ ma quỷ, dịch lệ, ôn thần cho chủ nhà. Thiên Hương đảng trong Luận ngữ: Hương nhân na. Khổng chú: “Na, có nghĩa là xua đuổi quỷ ôn dịch”. Đây là một tập tục, thay cho lời chúc tụng mạnh khỏe đầu năm.”
Gia Định thành là toàn bộ khu vực miền Nam Việt Nam từ năm 1698 cho đến năm 1932, khi vua Minh Mạng chia miền Nam thành 6 tỉnh và bãi bỏ tên gọi này. Theo dịch giả Lê Việt Dũng “Na nhân” được nhắc đến ở đây chính là nghi lễ trừ dịch. Từ thời nhà Trần, nghi lễ Na đã bắt đầu có xu thế thích nghi với thế tục và các yếu tố bản địa. Đến đầu thế kỷ XIX thời nhà Nguyễn, nghi lễ Na đã chuyển dịch từ không gian cung đình sang đời sống dân gian, xuất hiện dưới một diện mạo mới là hát sắc bùa[62], một phong tục dân gian có yếu tố nghi lễ. Quá trình chuyển dịch này cũng làm biến đổi cấu trúc của nghi lễ, khiến nó không còn giữ nguyên tính trang trọng của nghi lễ cung đình, mà trở thành một phong tục dân gian có yếu tố nghi lễ. Mặt khác, các ghi chép về điển lễ triều Nguyễn cũng không đề cập đến nghi lễ này, cho thấy nó đã bị loại bỏ khỏi hệ thống nghi lễ chính thống và chỉ còn tồn tại trong văn hóa dân gian. Tuy nhiên, do sự đứt gãy về tư liệu kéo dài suốt nửa thiên niên kỷ, việc truy nguyên quá trình chuyển đổi của nghi lễ Na từ nghi lễ cung đình sang hình thức hát sắc bùa, vẫn chưa thể khảo cứu một cách đầy đủ.
Trong tác phẩm Nguyệt lệnh diễn âm ca[63] nằm trong sách Trung Dung diễn ca[64] của Phạm Đình Toái[65] biên soạn vào thế kỷ XIX viết:
Nguyên văn: “驅儺 𱓲掐 賖𧵆,禳災祈福𣈜春舒徐。” (Phạm Đình Toái 1891: 27a)
Dịch Nôm: “Khu Na vang khắp xa gần, nhương tai[66] cầu phúc, ngày xuân thong dong.”
Có thể thấy nghi lễ Na không chỉ hiện diện qua những hình ảnh của một đội ngũ trừ dịch trang nghiêm, hùng hậu mà được tái hiện chủ yếu qua phương diện âm thanh. Dường như đây là dụng ý của tác giả khi tái hiện sự kết hợp giữa tiếng đốt pháo trúc và các thanh âm xua đuổi tà dịch như tiếng mõ, chiêng, chú thỉnh; tạo ra hiệu ứng âm thanh bùng nổ. Sự kết hợp này không chỉ phản ánh đặc trưng huyên náo, náo nhiệt khi một nghi lễ được dân gian hóa, mà còn cho thấy đối với người Việt, nghi lễ Na vừa mang yếu tố trừ tà dịch, vừa mang ý nghĩa cầu phúc đầu năm mới.
Thế kỷ XX
Thế kỷ XX, các cuốn Hán Việt tự điển của Thiều Chửu[67], Đại Tự điển Hán – Việt của Trần Văn Chánh[68] và Hán Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng[69] đều ghi nhận Na (儺) là nghi lễ cầu mát và xua đuổi ma quỷ gây nên bệnh dịch, nhưng cũng không có chú giải chi tiết về nghi lễ này diễn ra như nào, thành phần tham gia hay người chủ trì,… Cho thấy, đến thời điểm này, không ai còn biết diện mạo của nghi lễ này ra sao, họ chỉ biết đây là một nghi lễ trừ tà dịch.
Sang thời hiện đại, các thiết chế tín ngưỡng, nhu cầu tâm linh truyền thống thay đổi; nghi lễ khu Na dần đánh mất chức năng xã hội, gần như chỉ còn tồn tại và lưu giữ tại một số khu vực cư trú của người Mường; hoàn toàn biến mất ở các khu vực đồng bằng đông người cư trú. Sự biến mất này cũng phần nào phản ánh sự chọn lọc và nội sinh của văn hóa Việt; đã sớm hình thành và phát triển các nghi lễ, tín ngưỡng tương tự để thay thế.
Tổng kết
Nghi lễ Na bắt nguồn từ tín ngưỡng phù thủy cổ xưa trong văn hóa Hán, với mục đích chính là trừ tà, xua đuổi ôn dịch. Từ phổ biến trong đời sống dân gian, nghi lễ này dần được thể chế hóa, trở thành một bộ phận trong hệ thống nghi lễ chính thống tại cả Trung Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên, sự hưng thịnh của nghi lễ này không được duy trì liên tục. Bối cảnh chính trị thay đổi, dưới triều đại nhà Nguyên, một chính quyền không phải do người Hán sáng lập, lễ Na dần suy yếu và mất đi vị thế trong hệ thống lễ nhạc cung đình. Đến thời Minh, nghi lễ này chỉ còn giữ vai trò thứ yếu, tồn tại mờ nhạt như tàn dư của một nghi lễ truyền thống. Cuối thời Thanh, nghi lễ Na hoàn toàn biến mất khỏi hệ thống lễ nghi chính thống, chỉ còn tồn tại dưới dạng các nghi thức dân gian tại một số vùng thiểu số ít phát triển. Thời điểm chức năng nghi lễ truyền thống suy vi, các hình thức nghệ thuật này vẫn kịp thích ứng, chuyển hóa rồi từng bước định hình thành một hệ thống văn hóa phức hợp, bao gồm nhiều loại hình nghệ thuật đặc sắc như múa Na, nhảy Na, kịch Na, mặt nạ Na,… để tiếp tục tồn tại và phát triển. Còn tại Việt Nam, nghi lễ này chỉ dừng lại ở nghi lễ độc lập rồi chuyển hóa thành một phong tục dân gian có yếu tố nghi lễ, chứ không phát triển thành hệ thống văn hóa phức hợp như Trung Hoa. Hành trình từ hưng thịnh đến từng bước tàn lụi của nghi lễ Na tại Trung Quốc và Việt Nam phần nào phản ánh sự thay đổi trong quan niệm, nhận thức xã hội; khi trình độ y học, khoa học và tư duy lý tính ngày càng được đề cao dần thay thế các nghi lễ, tín ngưỡng huyền thuật truyền thống.
Chú thích
[1] Khổ đế (苦諦) là chân lý đầu tiên trong Tứ Diệu Đế (四聖諦) giáo lý cốt lõi của Phật giáo, do Đức Phật Thích Ca giảng dạy sau khi thành đạo tại vườn Lộc Uyển. Các dạng “khổ” được Đức Phật chỉ ra là “bát khổ” bao gồm: Sinh khổ, Lão khổ, Bệnh khổ, Tử khổ, Ái biệt ly khổ, Oán tắng hội khổ, Sở cầu bất đắc khổ, Ngũ uẩn khổ.
[2] Mã Nam Thôn (马南邨) (1912 – 1966), tên thật là Đặng Tử Kiện, quê ở huyện Mẫn Hầu, tỉnh Phúc Kiến, là một nhà cách mạng, nhà văn, nhà thơ, chính luận gia, sử gia và nhà báo nổi tiếng của Trung Quốc. Năm 1961, ông dùng bút danh Mã Nam Thôn để viết các bài cho chuyên mục Yên Sơn dạ thoại và sau này được xuất bản thành sách.
[3] Yên Sơn dạ thoại (燕山夜话) là tập tạp văn của Mã Nam Thôn, gồm hơn 150 bài đăng trên chuyên mục cùng tên của báo Buổi tối Bắc Kinh từ ngày 19/3/1961 đến 2/9/1962, sau được tập hợp và xuất bản thành sách. Tác phẩm như một cuốn bách khoa toàn thư thu nhỏ bàn luận các vấn đề từ chính trị, thời sự, tư tưởng, học tập, tác phong đến triết học, khoa học, văn học, nghệ thuật,…
[4] Chu lễ (周禮) là một tác phẩm kinh điển của Nho giáo và là một trong Thập tam kinh, ghi lại tình hình chính trị xã hội, kinh tế, văn hóa, phong tục và nghi thức của thời kỳ tiền Tần. Có rất nhiều tài liệu lịch sử có sẵn và nội dung trong đó cực kỳ phong phú và toàn diện. Có thể coi đây là kho tàng lịch sử văn hóa Trung Hoa.
[5] Trịnh Khang Thành (鄭康成) hay còn gọi là Trịnh Huyền (鄭玄), (127 – 200) quê ở Bắc Hải Cao Mật (nay thuộc quận Hiệp Sơn, Uy Phường, tỉnh Sơn Đông), là đại Nho gia và kinh học gia (những học giả chuyên nghiên cứu, chú giải và truyền bá kinh điển Nho gia) nổi bật vào cuối thời Đông Hán. Ông là người kết hợp cả cổ văn và kim văn kinh học, chú giải hầu như toàn bộ kinh điển Nho giáo. Các tác phẩm của ông như Thiên văn thất chính luận, Trung hầu với tổng cộng hơn một triệu chữ, tạo thành hệ thống học thuật được gọi là “Trịnh học” có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sau. Dưới thời Đường Trinh Quán (627 – 649), ông được xếp vào hàng 22 vị Tiên sư, được phối thờ trong Văn Miếu cùng Khổng Tử.
[6] Đỗ Tử Xuân (杜子春) (khoảng năm 30 TCN – 58), người Câu Thị, Hà Nam (nay là phía nam huyện Yển Sư, tỉnh Hà Nam), vào cuối thời Tây Hán (206 TCN – 8) từng theo học kinh điển Chu lễ với nhà chính trị gia và thư tịch học nổi tiếng cuối thời Tây Hán – Lưu Hâm. Bản chú giải Chu lễ của ông từng được sử dụng làm nền tảng cho bản Tam lễ chú giải do kinh học và nhà giáo Trịnh Huyền (Trịnh Khang Thành) biên soạn sau này.
[7] Phương Tương Thị là vị thần trong tín ngưỡng dân gian thời xưa, chuyên trừ dịch xua tà. Là cấp thuộc hạ của Ti Tư Mã được quy định trong Chu lễ, phẩm cấp cao nhất là Hạ Đại Phu. Chức trách là đội da gấu, gắn bốn mắt vàng, mặc áo đen váy đỏ, cầm giáo giương khiên để trừ dịch trên toàn quốc.
[8] Tham khảo: 郝敬 (1616), 禮記通解 卷6, 明萬曆四十四年 郝氏刊行, 44.
[9] Chiêm mộng (占夢) là một hình thức chiêm đoán điềm lành dữ thông qua giấc mộng. Giấc mộng được người xưa coi là biểu hiện của thiên ý hoặc khí vận, từ đó định ra hành vi lễ nghi, chính trị.
[10] Tham khảo: 鄭康成 (1806), 周禮 第3, 清嘉慶十一年刻本, 72 – 73.
[11] Thị tộc Hữu Hùng (有熊氏) là một thị tộc trong các bộ tộc Hoa Hạ thời Thượng Cổ được ghi chép trong sử truyện, truyền thuyết là tộc của Hoàng Đế, sống ở vùng Hữu Hùng, lập ra nước Hữu Hùng.
[12] Hoàng Đế (黃帝), còn gọi là Hiên Viên Hoàng Đế (軒轅黃帝), là một vị quân chủ huyền thoại và là anh hùng của văn minh Trung Hoa, được coi là thủy tổ của mọi người Hán. Theo huyền sử Trung Quốc, ông trị vì trong khoảng 2698 TCN đến 2599 TCN. Chữ Hoàng (黃) ở đây hàm nghĩa sắc vàng, Hoàng Đế là “Vua Vàng”, khác với Hoàng (皇) trong Hoàng đế, là danh xưng của các Quân chủ kể từ thời Tần Thủy Hoàng trở về sau.
[13] Tham khảo: 孙作云 (1957), “周先祖以熊为图腾考”, 开封师范学院学报, 河南, (0) – 1957.
[14] Lễ ký (禮記) là một quyển trong bộ Ngũ kinh tương truyền do các môn đệ của Khổng Tử thời Chiến quốc ghi chép các lễ nghi thời trước. Lễ ký cùng với Chu lễ và Nghi lễ được gọi chung là Tam lễ. Lễ ký là sách tham khảo quan trọng để nghiên cứu xã hội Trung Hoa cổ đại, hệ thống di tích văn hóa, nghi lễ, hiến tế, giáo dục, âm nhạc và Nho giáo.
[15] Theo Kinh Dịch, tháng 10 là thuần âm, tượng sáu hào âm, sang tháng 11 chuyển nhất dương sinh (quẻ Phục), tháng 12 thì nhị dương sinh. Biểu thị trong quái hào bằng hai hào dương ở dưới và 4 hào âm ở trên. Tức quẻ Địa trạch lâm.
[16] Cửu môn (九門): Chế độ thiết lập cung thất thời cổ, Vương thiên tử thiết lập 9 tầng cửa ở nơi cung điện. Về sau, Cửu môn chỉ nơi cung cấm.
[17] Luận ngữ (論語) là tập hợp các trích dẫn do các đệ tử của Khổng Tử biên soạn ghi lại những lời nói và hành động của Ông và các môn đồ. Công trình này được hoàn thành vào đầu thời Chiến Quốc. Cuốn sách gồm 20 chương và 492 mục, chủ yếu dưới dạng trích dẫn và bổ sung bằng phong cách tự sự.
[18] Lã thị Xuân Thu được hoàn thành vào khoảng năm 239 TCN, do Lã Bất Vi cùng nhiều người khác biên soạn. Cuốn sách này một công trình tổng hợp tri thức cổ đại Trung Hoa, bao gồm các lĩnh vực triết học, lịch sử, chính trị, đạo đức, thiên văn, địa lý, nông nghiệp…
[19] Lã Bất Vi (呂不韋, khoảng 292 TCN – 235 TCN), quê gốc tại nước Vệ. Lã Bất Vi là người có chí lớn, học rộng và có tầm nhìn chính trị cao minh. Khi làm Thừa tướng, ông tập hợp tới ba nghìn thực khách, mời các học giả, tư tưởng gia khắp nơi biên soạn bộ sách đồ sộ mang tên Lã thị Xuân Thu.
[20] Nước Tần (770 TCN – 221 TCN) là một trong bảy nước lớn gọi là “Chiến Quốc thất hùng” (Tần, Sở, Yên, Triệu, Hàn, Ngụy, Tề) tồn tại vào thời kỳ cuối của nhà Chu. Năm 221, Tần Vương Chính thống nhất toàn bộ lục quốc, xưng là Tần Thủy Hoàng, mở ra Triều đại nhà Tần – triều đại quân chủ trung ương tập quyền đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa.
[21] Hậu Hán thư (後漢書) là một bộ sử do Phạm Diệp thời Nguyên Gia – Nam Tống (424 – 453) biên soạn. Cuốn sách ghi lại lịch sử của nhà Đông Hán trong 197 năm, bắt đầu từ sự sụp đổ của nhà Tân của Vương Mãng (năm 23) và kết thúc vào năm Kiến An thứ 25 (năm 220) dưới thời Hán Hiến Đế, khi Tào Phi bãi bỏ nhà Hán và lập ra nhà Ngụy. Cuốn sách này bao gồm mười tập biên niên sử và tám mươi tập tiểu sử.
[22] Theo Thuyết văn giải tự (說文解字): “臘,冬至後三戌,臘祭百神。” / “Lạp, sau ngày Tuất thứ ba sau Đông chí, tiến hành lễ tế Lạp tế bách thần.” Đông chí theo Nông lịch là ngày 21 hoặc 22 tháng Chạp, ngày Lạp là ngày Tuất thứ 3 sau Đông chí. Mỗi năm, ngày Tuất thứ ba sau Đông Chí sẽ khác nhau, vậy nên ngày Lạp mỗi năm sẽ khác nhau, ngày tổ chức lễ Na cũng căn cứ như vậy mà không giống nhau.
[23] Trung hoàng môn (中黃門) là hoạn quan có cấp bậc thấp nhất trong nội đình triều Hán. Chức năng chủ yếu của Trung hoàng môn là cầm binh khí, canh giữ trong cấm cung, đảm nhiệm bảo vệ an toàn cho Hoàng đế.
[24] Chấn tử là những thiếu niên được tuyển chọn, thường trong độ tuổi 10 đến 12 tuổi, thuộc tầng lớp nội quan đóng vai trò phụ diễn trong các nghi lễ trừ tà, xua đuổi dịch bệnh.
[25] Nhũng Tòng Phó Xạ (冗從僕射) là chức quan cấm vệ trong hệ thống quan chế cổ đại Trung Quốc, lần đầu tiên xuất hiện vào thời Đông Hán, phụ trách đội cận vệ Trung hoàng môn trong nội cung.
[26] Thị trung (侍中): Quan thân cận bên vua.
[27] Thượng Thư (尚書): Quan cao phụ trách chính sự.
[28] Ngự Sử (禦史 ): Giám sát quan, kiểm tra quan lại.
[29] Yết Giả (謁者): Quan lễ tân, truyền đạt mệnh lệnh.
[30] Hổ Bôn (虎賁) : Những cận vệ tinh nhuệ của vua.
[31] Vũ Lâm lang tướng (羽林郎將): Chỉ huy cận vệ hoàng cung.
[32] Tùy thư (隋書) là một trong Nhị thập tứ sử (một bộ sử lớn của Trung Quốc, bao gồm 24 cuốn sách ghi chép lịch sử từ thời kỳ cổ đại cho đến triều đại nhà Minh). Tùy thư do Đường Thái Tông ra lệnh cho Ngụy Chính biên soạn, ông và Phòng Huyền Linh phụ trách toàn bộ sử ký với 16 lời tựa và 53 bài tiểu luận.
[33] Nam Bắc triều (420 – 589) là một giai đoạn kéo dài gần hai thế kỷ trong lịch sử Trung Quốc, diễn ra sau sự sụp đổ của Tây Tấn và trước sự thống nhất của nhà Tùy. Trong thời kỳ này, đất nước bị chia cắt thành hai phần: phía Nam do các triều đại của người Hán cai trị, gọi chung là Nam triều; phía Bắc do các triều đại do các dân tộc thiểu số phương Bắc lập nên, gọi chung là Bắc triều. Nam triều bao gồm bốn triều đại kế tiếp nhau, đều đóng đô tại Kiến Khang (nay là Nam Kinh), đó là: Lưu Tống (420 – 479), Nam Tề (479 – 502), Lương (502 – 557) và Trần (557 – 589). Bắc triều bắt đầu với sự thống trị của Bắc Ngụy (386 – 534), một triều đại do người Tiên Ti (鲜卑) sáng lập. Sau này, Bắc Ngụy phân liệt thành Đông Ngụy (534 – 550) và Tây Ngụy (535 – 557), rồi tiếp tục chuyển sang Bắc Tề (550 – 577) ở phía Đông và Bắc Chu (557 – 581) ở phía Tây. Thời kỳ Nam Bắc triều kết thúc vào năm 589, khi nhà Tùy do Dương Kiên sáng lập thống nhất toàn bộ Trung Quốc sau khi tiêu diệt nhà Trần.
[34] Cổ xuy lệnh (鼓吹令) là chức quan điều phối nhạc lễ.
[35] Tiên Ti (鮮卑) là dân tộc du mục cổ đại nổi lên ở cao nguyên Mông Cổ sau người Hung Nô. Họ khởi nguồn từ Đại Hưng An Lĩnh, thuộc tộc Đông Hồ, ngữ hệ Mông Cổ, và là dân tộc du mục có ảnh hưởng lớn nhất đến Trung Quốc trong thời kỳ Ngụy – Tấn – Nam Bắc triều. Thời Thập Lục Quốc, các bộ Tiên Ty lập ra nhiều nước: Mộ Dung thị các nước Yên, Tây Tần, Nam Lương, nước Đại; Thác Bạt bộ lập Bắc Ngụy (386), thống nhất phương Bắc (439). Năm 493, Bắc Ngụy tiến hành Hán hóa mạnh mẽ. Sau năm 534, phân thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, rồi đến Bắc Chu. Nhánh Mộ Dung còn lập nước Đột Quyết Hồn, sau bị Thổ Phồn thôn tính. Hậu duệ Thác Bạt lập Tây Hạ. Tổng cộng người Tiên Ty lập 11 quốc gia.
[36] Tiền Yên (337 – 370) là một quốc gia do thủ lĩnh quý tộc người Tiên Ti là Mộ Dung Hoảng (con trai của Mộ Dung Hối) thành lập vào thời kỳ Thập Lục Quốc. Tiền Yên lấy quốc hiệu là “Yên” vì đóng đô trên đất cũ của nước Yên thời Chiến Quốc. Sách Thập lục quốc Xuân Thu dùng tên gọi “Tiền Yên” để phân biệt với các nước Yên khác do họ Mộ Dung dựng vào cùng thời, nên các nhà sử học sau này cũng theo đó mà gọi.
[37] Trung Nguyên (中原) chỉ vùng đồng bằng trung tâm nằm ở lưu vực sông Hoàng Hà, đây là nơi phát tích của nhiều triều đại cổ đại như Hạ, Thương, Chu, do đó được xem là cái nôi của văn minh Hoa Hạ. Trong quan niệm chính trị truyền thống, ai chiếm giữ được Trung Nguyên thì được xem là nắm giữ chính thống, đủ tư cách xưng đế và lập triều đại. Điều này lý giải vì sao các thời kỳ chiến loạn, các thế lực đều hướng về mục tiêu “giành lại Trung nguyên”. Người Hoa Hạ (tổ tiên của tộc Hán) luôn xem trung nguyên là trung tâm của trời đất, những khu vực xung quanh đều là tứ di (man di mọi rợ).
[38] Ngày Thu phân theo Nông lịch là ngày 22 hoặc 23 tháng 9 Âm lịch.
[39] Hậu Tề ở đây chỉ giải đoạn nhà Bắc Chu (557 – 581) sau khi lật đổ lật đổ Bắc Tề, Bắc Chu cũng là một nhà nước do người Tiên Ti sáng lập. Thời kỳ này, thiết chế nhà nước và các nghi lễ được áp dụng theo nguyên mẫu của nhà Chu có kết hợp một số phong tục của người Tiên Ti.
[40] Nhạc phủ tạp lục là sách chuyên ghi chép, phân loại các khúc nhạc, nhạc cụ, nhân sự và nghi lễ liên quan đến Nhạc phủ thời Đường.
[41] Đoàn An Tiết không rõ năm sinh, mất, là người đất Lâm Uyên, cháu nội của tể tướng Đoàn Văn Xương, con của Đoàn Thành Thức – Thiếu khanh Thái Thường. Theo sách Nam Sở quan chí, đến thời Đường ông được phong làm Triều nghị Đại phu, giữ chức Quốc tử Tư nghiệp.
[42] Thái thường khanh (太常卿) là chức quan trong triều đình phụ trách các lễ nghi tại tông miếu. Chức năng chủ yếu của Thái thường khanh là phụ trách các lễ nghi.
[43] Thiếu khanh (少卿) là tên gọi một chức quan được thiết lập vào thời Bắc Ngụy niên hiệu Thái Hòa (477 – 499). Đến thời Bắc Tề, chức này là phó chức của Chính khanh; từ đời Tùy, Đường cho đến Thanh, chức Thiếu khanh vẫn tiếp tục được duy trì.
[44] Đông Kinh Mộng hoa lục (東京夢華錄) do Mạnh Nguyên Lão biên soạn vào năm Cảnh Khang thứ hai đời Tống Khâm Tông (1127). Tác phẩm ghi chép lại phong tục, tập quán và đời sống con người ở kinh đô Đông Kinh của triều Bắc Tống trong khoảng từ năm 1102 đến 1125.
[45] Mạnh Nguyên Lão (năm sinh năm mất không rõ), sống vào thời Bắc Tống tại Biện Kinh (nay là thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam). Khi xảy ra biến cố Tĩnh Khang, ông lánh nạn sang vùng Giang Tả (phía đông sông Trường Giang). Về cuối đời, trong nỗi nhớ thương sâu sắc về quá khứ huy hoàng của Biện Kinh, ông đã viết nên tác phẩm Đông Kinh Mộng hoa lục như một khúc ai ca bi thương cho nỗi đau nước mất nhà tan.
[46] Giáo phường là cơ quan phụ trách âm nhạc cung đình thời xưa. Bắt đầu từ đời Đường, chuyên phụ trách việc giảng dạy, tập luyện và biểu diễn các loại âm nhạc, múa và tạp kỹ ngoài nhã nhạc.
[47] Mạnh Cảnh Sơ (? – ?) là Giáo phường sư nổi tiếng dưới thời Bắc Tống.
[48] Chung Quỳ là vị thần cai quản và trừ tà trong văn hóa dân gian Trung Quốc. Ông được vua Đường Huyền Tông phong danh hiệu “Trấn trạch Thánh Quân” và “Vạn ứng chi Thần”, được Đạo giáo đưa vào hệ thống thần linh của mình.
[49] Thổ Địa là vị thần cai quản đất đai và bảo vệ mọi sinh hoạt của người dân tại một khu vực nhất định (thôn xóm, gia đình, làng xã, hoặc khu đất).
[50] Táo Thần là vị thần bảo vệ bếp núc và gia đình trong tín ngưỡng dân gian, có vai trò quan trọng trong các nghi lễ cúng tế và tín ngưỡng gia đình, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên Đán.
[51] Mộng Lương lục (夢梁錄) gồm hai mươi tập do Ngô Tử Mục sống ở cuối thời Nam Tống biên soạn. Cuốn sách này viết theo phong cách của Đông Kinh Mộng hoa lục ghi chép lại các đền chùa, cung điện, núi sông, con người, cửa hàng, sản phẩm, hộ khẩu, phong tục, thợ thủ công, chương trình tạp kỹ, trường học,… của Lâm An vào thời Nam Tống. Theo lời tựa của tác giả, cuốn sách được viết sau khi quân Nguyên chiếm được Lâm An, đánh dấu sự kết thúc của triều đại Nam Tống và sự thống nhất của Trung Quốc dưới sự cai trị của triều đại Nguyên.
[52] Thời nhà Tống, Hoàng thành ty được thành lập để quản lý và bảo vệ hoàng cung, đảm bảo an toàn cho hoàng đế.
[53] Nhạc Sở là cơ quan phụ trách âm nhạc trong triều đình, đặc biệt là quản lý việc biểu diễn nhã nhạc trong các nghi lễ, lễ hội, và các sự kiện chính thức.
[54] Lưỡng Tống (两宋) chỉ chung hai thời kỳ kế tiếp của triều đại nhà Tống ở Trung Quốc, gồm Bắc Tống (960 – 1127) và Nam Tống (1127 – 1279). Nhà Tống do họ Triệu (赵) sáng lập, ban đầu đóng đô tại Biện Kinh (nay là Khai Phong), thời kỳ này gọi là Bắc Tống. Sau khi xảy ra sự kiện “Tĩnh Khang chi biến” (靖康之变) vào năm 1127, nhà Kim (do người Nữ Chân lập) tiến đánh Biện Kinh, bắt sống vua Tống và hoàng thất, triều đình Bắc Tống sụp đổ. Một nhánh hoàng tộc còn sót lại chạy về phía nam, lập triều đình mới ở Lâm An (nay là Hàng Châu), tiếp tục quốc hiệu Tống, gọi là Nam Tống.
[55] An Nam chí lược là một bộ sách sử do Lê Tắc (1263 – 1342) biên soạn khi sống lưu vong tại Trung Quốc ở khoảng nửa đầu thế kỷ 14 được xem như là bộ sử sớm nhất ghi chép về nước ta còn tồn tại. Nội dung sách ghi chép hỗn hợp về địa lý, lịch sử, văn hóa của nước ta từ khởi thủy đến cuối đời Trần. Nguyên bản có 20 quyển, nhưng hiện tại chỉ còn 19 quyển.
[56] Lê Tắc (1263 – 1342), khi trưởng thành gia nhập quân đội nhà Trần và làm phụ tá cho Trần Kiện. Năm 1285, quân Nguyên Mông đánh Đại Việt, Trần Kiện thua trận đầu hàng, Trần Kiện và Lê Tắc bị đưa về Đại Đô. Bộ sách An Nam chí lược được ông soạn trong khoảng thời gian sống lưu vong trên đất Trung Quốc.
[57] Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 – 1291), tên thật là Tung, ông được phong tước Hưng Ninh Vương, từng hai lần chỉ huy quân đội đánh bại quân Nguyên – Mông xâm lược vào các năm 1285 và 1287. Ông vừa là đạo huynh của vua Trần Thánh Tông, vừa là thầy của vua Trần Nhân Tông. Tuệ Trung Thượng Sĩ có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành và phát triển Thiền phái Trúc Lâm.
[58] Trần Nhân Tông (1258 – 1308), là vị hoàng đế thứ ba của triều Trần, ông trị vì từ (1278 – 1293), sau đó nhường ngôi lên làm Thái thượng hoàng, xuất gia tu hành và sáng lập Thiền phái Trúc Lâm. Trong thời gian trị vì, Trần Nhân Tông được đánh giá là một minh quân, có nhiều đóng góp quan trọng trong việc củng cố quốc gia, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc trước các cuộc xâm lăng của Nguyên – Mông, đồng thời thúc đẩy mở rộng lãnh thổ về phía Nam.
[59] Gia Định thành thông chí (嘉定城通志) là một cuốn địa chí của Trịnh Hoài Đức viết về miền đất Gia Định bằng chữ Nho và chữ Nôm. Nội dung tập sách ghi chép đầy đủ và tỉ mỉ về núi sông, khí hậu, việc thành lập các trấn, thành trì, cũng như về phong tục tập quán, tính cách và sinh hoạt của người dân Nam Bộ.
[60] Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825), quê ở Trấn Biên (nay là thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Sau khi làm quan, ông được vua Gia Long trọng dụng, lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy cai trị của nhà Nguyễn.
[61] Nông Nại là phiên âm tiếng Khmer của Đồng Nai
[62] Hát sắc bùa là một hình thức diễn xướng dân gian có nguồn gốc từ người Mường sống tập trung ở các thung lũng hai bờ sông Đà (Phú Thọ, Sơn La, Ba Vì, Hòa Bình) và khu vực trung lưu của sông Mã, sông Bưởi (các huyện Thạch Thành, Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc của tỉnh Thanh Hóa); tục này đã được ghi nhận trong sử thi “Đẻ đất đẻ nước”. Hình thức hát này được truyền vào khu vực Nam Bộ thông qua quá trình cộng cư, giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân, đặc biệt là trong dòng chảy lịch sử của cuộc Nam tiến. Mặc dù mỗi địa phương có thể có những cách thể hiện khác nhau, nhưng về cơ bản, các yếu tố cốt lõi vẫn giữ được sự thống nhất. Hàng năm, cứ đến khoảng 27, 28 tháng Chạp, đội hát sắc bùa sẽ tụ tập ở nhà đoàn trưởng để tập luyện lại bài hát và đến 30 tháng Chạp thì lên đường đi hát sắc bùa. Thông thường, đoàn sắc bùa có khoảng trên dưới chục người do ông bầu hay ông trùm điều khiển. Đội hát sắc bùa đi đến các gia đình trong để chúc Tết và “dán bùa” trước cửa để xua đuổi tà ma, rủi ro và đón điều may mắn; là sự kết hợp của nghi lễ và diễn xướng, sau khi chúc tụng họ sẽ diễn các trò giải trí. Với người Mường, đoàn hát bao giờ cũng có đánh cồng chiêng. Với hát sắc bùa của người Việt trước đây thường có trò diễn “xúc xắc xúc xẻ” và có tục đốt pháo vào đêm 30 Tết. Sau này, ta cũng chỉ thấy có trò xúc xắc xúc xẻ chứ không còn phần nghi lễ chúc tụng phía trước. Hiện nay, chỉ còn dân tộc mường lưu giữ được hình thức hát sắc bùa này. Tham khảo: Phan Thị Hồng Xuân, Nguyễn Ngọc Thanh Vy, Hát sắc bùa trong văn hóa Việt Nam (Nghiên cứu trường hợp xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre), Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 4 (17) – 2014.
[63] Phạm Đình Toái (1818 – 1901), tự là Thiếu Du, quê Nghệ An. Phạm Đình Toái đậu cử nhân năm 1843, làm án sát tỉnh Bình Định, sau thăng đến Hồng lô Tự khanh, là chức Trưởng quan của Hồng Lô tự của Nhà Nguyễn, chuyên lo việc nghi lễ trong các khoa thi cử như xướng danh, yết bảng.
[64] Trung dung diễn ca (中庸演歌) do Phạm Đình Toái soạn, Cao Xuân Dục đề bạt. Sách diễn nôm 33 chương sách Trung dung và được khắc in năm 1891, kí hiệu: AB-540. Sách này đóng chung trong tập Dịch quái diễn ca (易卦演歌) cùng một số bản diễn Nôm khác.
[65] Nguyệt lệnh diễn ca âm (月令演歌音) là tác phẩm của Phạm Đình Toái, người Nghệ An. Gồm các bài diễn ca chữ Nôm: Nhật hành triền độ ca (日行躔度歌), Hôn đán trung tinh ca (昏旦中星歌), Trục nguyệt trung luật ca (逐月中律歌), Tứ thời ca (四時歌), Thập nhị nguyệt ca (十二月歌),… nằm trong sách Trung dung diễn ca – Dịch quái diễn ca (中庸演歌 易卦演歌).
[66] Nhương tai là cầu lễ trừ tai ương.
[67] Thiều Chửu (1902 – 1954), tên thật Nguyễn Hữu Kha, là nhà văn hóa, dịch giả và cư sĩ Việt Nam. Ông sinh ra và lớn lên tại làng Trung Tự, quận Đống Đa, Hà Nội. Giai đoạn Chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ, ông cùng các cư sĩ cùng thời như Nguyễn Năng Quốc, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Trần Văn Giáp, Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh, và các nhà sư Trí Hải, Tố Liên mời đồng đứng ra thành lập Hội Bắc Kỳ Phật Giáo (1934).
[68] Trần Văn Chánh là học giả, dịch giả chuyên sâu về Hán ngữ, hiện sống và làm việc tại TP. Hồ Chí Minh, nổi tiếng với các công trình như Đại Tự điển Hán – Việt, Ngữ pháp Hán ngữ cổ đại và hiện đại, Toàn thư tự học chữ Hán. Đại Tự điển Hán – Việt là công trình tự điển Hán Việt lớn nhất được xuất bản 80 năm sau bộ Hán Việt tự điển của Thiều Chửu (1942). Công trình của soạn giả Trần Văn Chánh có 12.000 đơn vị tự, nhiều nhất so với các tự – từ điển Hán – Việt đã có từ trước tới nay.
[69] Nguyễn Quốc Hùng (1938 – 2003), là nhà Hán học nổi tiếng của thế kỷ XX, ông sinh ra trong một gia đình danh giáo, thân phụ ông từng giữ chức Đốc học tỉnh Hải Dương. Ông vừa là dịch giả dịch nhiều tác phẩm kinh điển Trung Quốc như Hồng lâu mộng và Kim Bình Mai (1969), vừa biên soạn một số cuốn sách như Hán Việt tân từ điển (1974), Thông dụng thành ngữ cố sự (1989).
Tài liệu trích dẫn
- Dương Bá Tuấn (楊伯峻). 1980. Luận Ngữ dịch và chú giải (論語譯注). Chương 10 (第十章). Bắc Kinh (北京): Trung Hoa thư cục (中華書局)
- Đoàn An Tiết (段安節). 1936. Nhạc phủ tạp lục tập 1 (樂府雜錄 第1卷). Chủ biên Vương Vân Ngũ (主編王雲五). Thượng Hải (上海): Nhà in Thương Vụ Nam Lộ (南路商務印書館).
- Hách Kính (郝敬). 1616. Lễ Ký Thông Giải quyển 1-6 (禮記通解 卷1-6). Quyển 6 (卷6). Được khắc bởi họ Hách vào năm thứ 44 niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh (明萬曆四十四年 郝氏刊行).
- Lã Bất Vi (呂不韋). .1406. Lã thị Xuân Thu quyển 8-13 (呂氏春秋 巻8-13). quyển 12 (巻12). Cao Dụ đời Hán chú thích (高诱(汉)注释). Hoàng Phủ Long đời Minh và Thẩm Triệu Đình đời Minh hiệu đính (黄甫竜(明), 沈兆廷 (明)校订). Bản khắc năm thứ 5 niên hiệu Vĩnh Lạc nhà Minh, Hoa Tế tàng bản (明永乐五年刻本华济藏本).
- Lê Tắc (黎崱). 1884. An Nam Chí Lược quyển 1-8 (安南志略 巻第1-8). Quyển 1 (第1). Thượng Hải (上海): Xuất bản tại Lạc Thiện Đường (楽善堂刊).
- Mã Nam Thôn (马南邨). 2019. Yên Sơn dạ thoại (燕山夜话). Chương 40 (第四十章). Công ty TNHH Nhà xuất bản Văn nghệ Trường Giang ủy quyền cho trang Khởi Điểm Trung Văn phát hành (本作品由长江文艺出版社有限公司授权起点中文网制作发行).
- Mạnh Nguyên Lão (孟元老). 1936. Đông Kinh Mộng hoa lục (東京夢華錄). Chương 10 (第十章). Chủ biên Vương Văn Ngũ (主編王雲五). Thượng Hải (上海): Thương Vụ Ấn Thư Quán phát hành (商務印書館發行).
- Nguyễn Trãi. 2008. “Quốc Âm thi tập – Trừ tịch”. Tổng tập Văn Học Nôm Việt Nam. tập 1. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
- Ngô Tự Mục (吴自牧). 1985. Mộng Lương lục 2 (夢梁錄 2), Chương 6 (第六章), Bắc Kinh ( 北京): Trung Hoa thư cục (中华书局).
- Ngụy Chính (魏征). (ca. 1935 – 1949). Khâm định Tùy thư quyển 7-12 (欽定隋書 卷7-12). Quyển 8 (卷8). Bản in lại từ bản hiệu đính năm Càn Long thứ 4 nhà Thanh (重刊自清乾隆四年校刊). Thượng Hải (上海): Nhà sách đệ nhất Thượng Hải thời Dân Quốc phát hành (上海民国第一图书局).
- Phạm Đình Toái. 1891. “Nguyệt lệnh diễn âm ca”. Trung dung diễn ca – Dịch quái diễn ca. Bản khắc năm Thành Thái thứ 3. Lưu tại Kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Ký hiệu: AB.540.
- Phòng Huyền Linh (房玄龄). 1587. Tấn thư – nhất bách bát (晉書 一百八), Tải ký đệ bát (載記第八). Bản khắc lại vào năm Mậu Dần niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh, dựa theo bản của quận học Thu Phố thời Tống Khai Hy (明萬曆戊寅覆刋宋開禧間秋浦郡齋本).
- Trần Nghĩa. 2010. “Quá trình hội nhập Nho – Phật – Lão hay sự hình thành tư tưởng ‘Tam giáo đồng nguyên’ ở Việt Nam”. Tạp chí Nghiên cứu Triết học số 1 (224).
- Trịnh Hoài Đức. 1999. Gia Định thành thông chí. Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục.
- Trịnh Hoài Đức. 2005. Gia Định Thành thông chí. Lý Việt Dũng dịch và chú giải; Huỳnh Văn Tới hiệu đính và giới thiệu. Đồng Nai: Nhà xuất bản Đồng Nai. Gia Định Thành thông chí
- Trịnh Khang Thành (鄭康成). 1806. Chu lễ quyển 3 (周禮 第3). Bản khắc năm thứ 11 niên hiệu Gia Khánh nhà Thanh (清嘉慶十一年刻本).
- Trịnh Khang Thành (鄭康成). 1806. Chu lễ quyển 4 (周禮 第44). Bản khắc năm thứ 11 niên hiệu Gia Khánh nhà Thanh (清嘉慶十一年刻本).
- Tư Mã Bưu, Phạm Diệp (司馬彪, 范晔). (ca. 1522 – 1566). Hậu Hán thư quyển 37 (後漢書 第37). Lễ nghi đệ ngũ trung chí (禮儀第五中志). Uông Văn Thịnh và các học giả đời Minh Gia Tĩnh hiệu đính (汪文盛等明嘉靖). Lưu trữ trong kho tư liệu số về cổ tịch Trung Hoa (中華古籍資源庫 數字古籍).