Chuyên mục chính

  • Nghi lễ vòng đời
    • Hôn lễ
    • Sinh con
    • Động thổ làm nhà
    • Mừng thọ và sinh nhật
    • Tang ma
    • Ngày giỗ
  • Nghi lễ hàng năm
    • Dịp Tết Nguyên Đán 1/1
    • Dâng sao giải hạn 15/1
    • Nguyên tiêu 15/1
    • Tết Thanh minh 3/3
    • Tết Hàn thực 3/3
    • Tết Đoan ngọ 5/5
    • Lễ Thất Tịch 7/7
    • Lễ Vu Lan 15/7
    • Tết Trung Nguyên 15/7
    • Tết Trung thu 15/8
    • Tết Trùng Cửu 9/9
    • Tết Cơm mới (10-15/10)
    • Tết Táo Quân 23/12
    • Ngày mùng 1 hàng tháng
    • Ngày rằm hàng tháng
  • Đặc trưng văn hóa Việt
    • Chữ và Nghĩa
    • Phong tục thờ cúng
    • Văn hóa giao tiếp
    • Món ăn truyền thống
    • Trò chơi dân gian
    • Trang phục truyền thống
    • Nghệ thuật truyền thống
    • Di sản văn hoá
    • Nền nếp sinh hoạt
  • Tôn giáo tín ngưỡng
    • Phật giáo
    • Công giáo
    • Thờ cúng tổ tiên
    • Thờ cúng tổ nghề
    • Tín ngưỡng thờ Thần
    • Tín ngưỡng thờ Mẫu
    • Tôn giáo khác

Menu

  • Trang đầu
  • Giới thiệu
  • Liên hệ

Follow Us

DMCA.com Protection Status
Cổ Phong
No Result
View All Result
Khóa học
Cổ Phong
No Result
View All Result
Home Nghi lễ hàng năm
Tranh “Dựng nêu ngày Tết” trong cuốn sách Kỹ thuật của người An Nam của Henri Oger

Tục dựng nêu của người Việt

Thủy Nguyễn

Dẫn nhập

Mỗi dịp Tết đến xuân về, khi đất trời chuyển mình trong sắc xuân rạo rực, hình ảnh ngọn cây cao vút giữa sân đình, trước mái nhà hay nơi điện miếu lại gợi về một biểu tượng văn hóa đặc sắc đã ăn sâu vào tiềm thức người Việt – Tục dựng nêu. Không ồn ào như tiếng pháo, không rực rỡ như câu đối đỏ, cây nêu lặng lẽ mà trang nghiêm, là dấu hiệu báo xuân, là ranh giới thiêng liêng giữa cõi trần tục và thế giới tổ tiên, là niềm tin gửi gắm vào một năm mới thanh sạch, an lành. Dựng nêu là tập tục cổ truyền quan trọng trong dịp Tết Nguyên Đán, phản ánh chiều sâu tín ngưỡng dân gian và khát vọng giao hòa với trời đất. Bài nghiên cứu này nhằm tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa biểu tượng của cây nêu trong đời sống tinh thần người Việt; đồng thời khảo cứu qua các ghi chép lịch sử, sự hiện diện trong thi ca, từ đó khái quát vai trò và sức sống bền bỉ của tục dựng nêu trong mạch nguồn văn hóa dân tộc.

Nguồn gốc

Cây nêu là biểu tượng linh thiêng trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, thường được dựng vào dịp Tết để xua đuổi tà ma, quỷ dữ và mời tổ tiên về sum họp cùng con cháu. Thân nêu thường là một cây tre già, cao, thẳng, được tước sạch cành lá, chỉ để lại một chùm lá xanh trên ngọn. Trên đó treo nhiều vật phẩm mang tính trừ tà và cầu phúc, gọi là “bùa nêu”. Trong Hội hè lễ tết của người Việt, học giả Nguyễn Văn Huyên đã miêu tả cây nêu một cách chi tiết và sinh động:

“Đấy là một cây tre dài năm sáu mét, được tước hết các cành, nhưng có để lại ở ngọn những cụm lá hoặc buộc vào đó một túm lông gà trống, một mớ lá đa hay lá cây vạn niên thanh. Gần đỉnh treo một cái vòng tre, có buộc những con cá nhỏ, những chiếc chuông con và khánh bằng đất sét nung phát ra một âm thanh nhẹ và êm khi gió thổi. Dưới cái vòng này có buộc một cái mũ thần, những thoi vàng bằng giấy, những miếng trầu, lá dứa hoặc cành xương rồng gai. Ở đỉnh còn treo một cái đèn thắp ban đêm. Cây nêu được làm như vậy chỉ đúng đường cho tổ tiên trở về ăn Tết trong gia đình những người đang sống.”[1]

Ngày xưa, cứ đến ngày 23 tháng Chạp, dịp tiễn ông Táo chầu trời khắp các làng quê Việt Nam lại rộn ràng dựng nêu đón Tết. Dưới gốc nêu, bột vôi trắng được rắc thành hình cánh cung với mũi tên chỉ về hướng Đông, hướng mặt trời mọc tượng trưng cho dương khí. Với người Việt, cây nêu không chỉ là dấu hiệu báo Tết về, mà còn mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, xua đuổi ma quỷ và mở lối đón tổ tiên về sum họp cùng con cháu.

Sự tích dân gian

Vào thời xa xưa, quỷ chiếm đất và thường xuyên quấy phá hoa màu, sản vật mà con người trồng. Thấy vậy, Phật đã chỉ con người cách trồng một cây nêu cao vút, dùng cây tre làm thân và treo chiếc áo cà sa lên ngọn cây. Lừa quỷ đồng ý với thỏa thuận rằng nơi nào bóng chiếc áo phủ đến, phần đất đó sẽ thuộc quyền quản lý của con người, phần còn lại sẽ thuộc về quỷ. Sau đó, Phật đã dùng phép màu để khiến bóng chiếc áo cà sa phủ khắp mặt đất, khiến quỷ không thể ở trên, bị đẩy ra ngoài biển Đông. Tuy nhiên quỷ vẫn không nguôi ngoai ý định quay trở lại đất liền, khi Tết đến, chúng thường quay lại đất liền để tìm tổ tiên và kiếm ăn. Hằng năm, cứ dịp Tết đến, để tránh bị quỷ quấy nhiễu, người dân đã dựng cây nêu treo lên bùa và chiếc khánh làm bằng đất nung cùng nhiều đồ khác tùy thuộc theo vùng miền. Sự tích dân gian đã lý giải về tục dựng nêu theo hướng giáo lý của nhà Phật.

Trong chính sử

Đại Nam thực lục[2] chép vào năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) khi vua hỏi quan thị thần như sau:

“Lại hỏi than rằng: “Lễ dựng cây nêu trong buổi trừ tịch là kinh điển nào?” Nội các Hà Quyền thưa rằng: “Người xưa cũng có dùng [cây nêu làm đề tài] làm thơ. Thần chỉ nghe tương truyền là ra từ kinh nhà Phật, nhưng cũng chưa rõ ý nghĩa vì sao.” Vua nói: “Người xưa đặt ra lễ này cũng là lấy nghĩa rằng nêu là tiêu biểu cho năm mới. Thế thì lễ là do nghĩa mà sinh ra đó thôi.”[3]

Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân của người soạn, lý giải như vậy vẫn chưa đầy đủ, khi tra cứu cuốn sách Tết năm mới ở Việt Nam người soạn có thêm một góc nhìn của tục dựng nêu thông qua việc treo vật tượng trưng hoặc bùa nêu trên ngọn cây. Lý giải về việc này, tác giả chỉ ra rằng việc treo bùa nêu sẽ tùy đặc trưng văn hóa của từng vùng. Nơi chịu ảnh hưởng nhiều của Đạo giáo[4] thì cho rằng đây là tục treo bùa Đạo từ Trung Quốc, còn nơi chịu ảnh hưởng nhiều của đạo Phật thì lại lý giải cây nêu bằng sự tích ở trên.[5] Bùa đạo này là loại tứ tung ngũ hoành[6] với ý nghĩa cấm quỷ dữ đến xâm phạm gia đình trong ngày Tết. Nghĩa là tục dựng nêu của Việt Nam cũng có ảnh hưởng từ Đạo giáo Trung Quốc, theo đó, người soạn tiếp tục tra cứu và giải nghĩa từ “nêu”.

Giải nghĩa từ “Nêu”

Về chữ Nôm, theo bảng tra chữ Nôm số 5427 của tác giả Hồ Lê âm đọc “Nêu” viết chữ là 標 (Tiêu), Thượng Tiêu (上標) chính là lễ dựng Nêu. Về chữ Hán, người soạn đã tra cứu Khang Hy từ điển[7] giải nghĩa 標 (Tiêu) có nghĩa là Ngọn cây cao. Trang Tử[8] một nhà Đạo gia Trung Quốc đã viết trong cuốn sách Trang Tử (Nam Hoa chân kinh) của mình, ở chương Thiên Địa như sau:

“上如標枝,民如野鹿./ Thượng như Tiêu chi, Dân như dã lộc.” / “Người cầm quyền như những cành cao (nghĩa là ở trên mọi người), dân [tự do, vui vẻ] như con hươu trên đồng.”[9]

標 (Tiêu) ở đây là chỉ cành cây trên ngọn cây, câu này của Trang Tử ẩn dụ cho người cai trị như cành cây, ngọn cây ở trên cao. Có lẽ người Việt cũng mượn hình ảnh  標 (Tiêu) này để đánh dấu lãnh thổ, khẳng định địa vực cư trú của mình. Vậy nên, theo quan điểm của người soạn, cây Nêu của người Việt được dựng lên là sự bao hàm của cả hai lý giải trên, vừa để xua đuổi tà ma, vừa để khẳng định địa vực lãnh thổ của người Việt có người Việt cai trị.

Ý nghĩa hình ảnh cây Nêu trong văn hóa Việt

Vì sao người Việt chọn cây tre làm cây Nêu?

Trong kho tàng biểu tượng văn hóa Việt Nam, ít có hình ảnh nào gần gũi và giàu ý nghĩa như cây tre. Việc chọn tre làm cây Nêu không phải ngẫu nhiên, mà bắt nguồn từ một mạch ngầm văn hóa sâu xa gắn liền với lịch sử, tín ngưỡng và tâm thức dân tộc. Người xưa thường quan niệm tre là cây vũ trụ, kết nối trời và đất có thể thấy qua “sự tích cây tre trăm đốt”. Tre là loài cây mọc thẳng, dẻo dai nhưng không gãy, có thể bám sâu vào lòng đất, vươn lên giữa giông bão, cũng như phẩm chất kiên cường, bất khuất, thủy chung của người Việt qua bao cuộc trường chinh giữ nước. Cây tre là vũ khí thiêng liêng trong truyền thuyết Thánh Gióng – người anh hùng nhổ tre bên đường đánh tan giặc Ân[10] xâm lược, bảo vệ non sông. Trong thực tế, tre còn được trồng để giữ đất, chống xói mòn, như một biểu tượng âm thầm của sự bền bỉ và gìn giữ cương vực quê hương. Bởi thế, dựng cây Nêu bằng tre không chỉ để trừ tà, mà còn là một khẳng định ngầm về sức sống, sự trường tồn và tinh thần cảnh giác của cộng đồng trong thời khắc chuyển giao năm cũ sang năm mới.

Vật phẩm treo trên cây Nêu

Tùy theo từng vùng văn hóa, các vật phẩm được treo trên cây Nêu có thể có những biến đổi khác nhau, phản ánh quan niệm tín ngưỡng và tập quán sinh hoạt riêng của cộng đồng. Đặc biệt, tại vùng đồng bằng Bắc Bộ, cái nôi của văn hóa lúa nước, cây Nêu được trang trí bằng nhiều biểu tượng mang tính chất trấn tà, cầu phúc và giao tiếp với thế giới linh thiêng. Trước hết là chùm lá có gai như cành đa, lá dứa, đây những loài cây dân gian tin rằng có khả năng xua đuổi tà ma, trấn áp uế khí. Treo cùng là vòng tròn gỗ mang năm con cá chép, sơn năm màu ngũ hành: Vàng (thổ), đỏ (hỏa), xanh lục (mộc), xanh lam (thủy), trắng (kim). Hình tượng cá chép gỗ không chỉ mang ý nghĩa phong thủy mà còn gợi nhắc đến tích “cá chép vượt Vũ Môn”[11], biểu trưng cho sự thành đạt, thăng hoa, và khát vọng vươn lên của gia chủ trong năm mới. Người xưa hay treo cùng một tờ giấy đỏ viết lời cầu nguyện bằng chữ Hán, cùng nhiều đồ khác theo đặc trưng và phong tục của từng vùng.

Tại vùng Nam Bộ, người ta hay treo kết hợp bùa “tứ tung ngũ hoành” và bùa Nêu Ông Cọp[12]. Cờ ngũ sắc, viền theo họa tiết lửa cháy, tượng trưng cho sự sống sinh sôi và năng lượng vũ trụ lan tỏa. Đèn lồng treo trên ngọn nêu, tỏa ánh sáng rực rỡ trong đêm, là ngọn đèn dẫn đường để thần linh, gia tiên trở về đoàn tụ với con cháu trong dịp Tết. Ngoài ra, giỏ tre đựng trầu cau, gạo, muối cũng là chi tiết đầy ý nghĩa, gắn liền với tục lệ “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi” thể hiện ước nguyện cho cuộc sống hòa thuận và khởi đầu viên mãn. Dần dần sau này, không còn thấy nhà nhà dựng nêu nữa nhưng người ta vẫn giữ thói quen treo bùa nêu ông cọp trước nhà.

Fff

Bùa Nêu Ông Cọp (trái) và bùa Tứ tung ngũ hoành (phải) in từ mộc bản. (Nguồn: NNC Huỳnh Thanh Bình)

2024 11 05 16 41 20 9 390x510

Nguồn: Sách Tranh dân gian Nam Bộ của NNC Huỳnh Thanh Bình

Ngoài ra, vật phẩm treo trên cây nêu cũng phản ánh nghề nghiệp và ước nguyện riêng của mỗi gia đình, nhà làm nông thường treo chim gỗ, trong khi nhà làm nghề chài lưới lại treo cá chép gỗ, thể hiện khát vọng về một năm mới mùa màng bội thu, đánh bắt thuận lợi và cuộc sống no đủ.

Những vật phẩm được treo lên cây Nêu không chỉ đơn thuần là đồ trang trí, mà kết tinh từ nhiều lớp văn hóa, tín ngưỡng dân gian, Phật giáo, Đạo giáo đến tập quán sản xuất nông nghiệp; tạo nên một nghi lễ đặc sắc trong không gian Tết cổ truyền của người Việt.

Những ghi chép về tục dựng nêu

Tục dựng nêu không chỉ lưu truyền trong ký ức dân gian mà còn được ghi nhận trong nhiều thư tịch và khảo cứu từ khá sớm. Qua các ghi chép của những người đương thời, cả trong nước lẫn từ phương Tây, chúng ta có dịp hình dung rõ hơn về hình thức, ý nghĩa cũng như sự phổ biến của tục dựng nêu từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỷ XIX. Những tư liệu ấy, dù mang những cách nhìn khác nhau, vẫn góp phần làm sáng tỏ chiều sâu tín ngưỡng và đời sống tinh thần của người Việt gắn với nghi thức tiễn năm cũ, đón năm mới.

Tác giả Alexandre de Rhodes, một nhà truyền giáo người Pháp khi đến Việt Nam vào thế kỷ XVII đã ghi chép về tục dựng nêu ở miền Bắc nước ta trong cuốn Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài như sau:

“Còn những người khác có phận sự trong nhà như gia trưởng thì vào cuối năm họ có thói dựng gần cửa nhà một cột dài vượt quá mái nhà, trên ngọn treo một cái giỏ hay một túi đục thủng nhiều lỗ và đựng đầy thứ tiền bằng giấy vàng giấy bạc. Họ điên dại tưởng tượng là cha mẹ họ mất, vào cuối năm có thể bị túng thiếu và cần đến vàng bạc để trả nợ.”[13]

Cách diễn đạt của tác giả phản ánh góc nhìn của một người phương Tây với hệ giá trị khác biệt, tuy nhiên đoạn ghi chép vẫn là một tư liệu quan trọng cho thấy tục dựng nêu ở Việt Nam đã hiện diện từ thế kỷ XVII hoặc sớm hơn. Qua đó, ta có thể hình dung phần quy cách dựng nêu, cây nêu phải được dựng cao vượt mái nhà, treo giỏ hoặc túi đựng vàng mã như một cách gửi gắm lễ vật cho tổ tiên, thể hiện lòng tưởng nhớ và quan niệm dân gian của người Việt rằng “trần sao thì âm vậy”, muốn tổ tiên có được sự đầy đủ, không bị túng thiếu ở cõi âm.

Khoảng cuối thời Gia Long (1802 – 1820) đầu thời Minh Mạng (1820 – 1841), trong cuốn Gia Định thành thông chí[14], sử gia Trịnh Hoài Đức chép về tục dựng nêu ở Thành Gia Định như sau:

“Bữa trừ tịch (tức ngày cuối năm) mọi nhà ở trước cửa lớn đều dựng một cây tre, trên buộc cái giỏ bằng tre, trong giỏ đựng trầu cau vôi, bên trong vỏ có treo giấy vàng bạc, gọi là lên nêu. Việc này không thể khảo cứu nguyên do từ đâu, mà có thuyết nói đó là chia ra 3 giới thống trị, ấy là thuyết hoang đường không nên tin, nhưng suy ngẫm ý làm như vậy, cũng như ở Trung Quốc ngày đầu năm đốt pháo tre, treo bùa đào, ngày mùng 5 tháng 5 treo lá ngải, lá xương bồ vậy. Có ý nghĩa là để làm tiêu biểu cho năm mới mà tảo trừ những việc xấu xa trong năm cũ.”[15]

Tác giả Trịnh Hoài Đức mô tả ở vùng Gia Định vào ngày trừ tịch, mỗi nhà dựng một cây tre trước cửa, trên có giỏ tre đựng trầu, cau, vôi và treo giấy vàng bạc gọi là lên nêu. Tuy không rõ nguồn gốc tục lệ này nhưng tác giả bác bỏ thuyết phân chia ba giới thống trị hoang đường. Thay vào đó, ông cho rằng đây là phong tục mang tính biểu tượng đầu năm, tương tự như việc người Trung Quốc treo bùa đào, treo lá ngải, đốt pháo để trừ tà, đón vận may.

Sang cuốn Đại Nam thực lục, ta có thêm cái nhìn về tục dựng nêu trong Cung đình thời Nguyễn. Đại Nam thực lục tập 2, đệ nhị kỷ – quyển XXIX, Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) chép như sau:

“Phàm gặp ngày chính tiết Thánh Thọ, ngày chính tiết Vạn thọ và trước 1 ngày, cùng là ngày dựng nêu, ba ngày Tết Nguyên Đán, ngày tết Đoan Dương, ngày rằm mồng một, trời tạnh thì treo cờ trừu một lát, rồi thay cờ vải.”[16]

Trong các dịp, tiết quan trọng, triều đình quy định phải treo thêm cờ trừu vàng, ngày dựng nêu cũng vậy. Nghĩa là khi dựng nêu trên cây nêu sẽ treo thêm cả cờ trừu vàng.

Đại Nam thực lục tập 2, đệ nhị kỷ – quyển XXX, Giáp thân, năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) chép: “Định lệ lễ các tiết Nguyên Đán, Đoan Dương và Thượng Tiêu (Năm nay trừ tịch Thượng tiêu, vua đến Thế miếu; sang năm tiết Nguyên Đán đến Thái miếu; tiết Đoan Dương đến Thế miếu, tiết Thượng Tiêu đến Thái miếu. Lại sang năm nữa tiết Nguyên Đán đến Thế miếu, tiết Đoan Dương đến Thái miếu, tiết Thượng Tiêu đến Thế miếu, hết vòng lại quay lại. Còn các miếu thì sai các hoàng tử tước công tế thay).”[17] Đoạn chép cho thấy rõ lễ Thượng Tiêu dưới thời Minh Mệnh, xác lập là một trong ba nghi lễ lớn hàng năm, cùng với Nguyên đán và Đoan Dương, được tổ chức luân phiên tại Thái miếu và Thế miếu, do chính Hoàng đế thân hành chủ lễ. Dù không có ban cáo chính thức nhưng qua cách tổ chức trang trọng và vị thế của lễ Thượng tiêu trong hệ thống tế tự hoàng gia, có thể thấy lễ này đã được ngầm nâng tầm thành quốc lễ.

Đại Nam thực lục tập 2, đệ nhị kỷ – quyển XLIX, Đinh hợi, năm Minh Mệnh thứ 8 (1827) chép:

“Bộ Lễ tâu rằng lệ trước một năm 5 lễ hưởng (Năm lễ hưởng: Xuân hưởng, Hạ hưởng, Thu hưởng, Đông hưởng và Hợp hưởng) cùng ở tiết Nguyên đán, Đoan dương, Thượng tiêu (dựng nêu) đều do Hoàng thượng đến kỳ chính mình đến Thái miếu, Thế miếu làm lễ. Trộm nghĩ Tôn miếu là chỗ tôn nghiêm lễ văn nghi tắc, phải cho tình lý thỏa đáng mới là phải. Bốn mùa đắp đổi, nên có bốn lễ hưởng để tỏ rõ tình văn. Khi năm sắp hết thì mùa đông có lễ Hợp hưởng để báo thành tích cả năm, cùng là ngày đầu năm đón phước (Nguyên đán) và lúc giữa trời tươi sáng (Đoan dương) đều là lễ long trọng quan hệ cả. Còn như lễ cuối năm dựng cây nêu, sách vở không thấy nói đến. Nhưng tục nước ta theo làm đã lâu, chưa nên vội bỏ. Từ nay xin sai Hoàng tử hay các tước công tế thay, mới là thỏa đáng. Vua cho là phải.”[18]

Lễ Hợp hưởng được biết đến là nghi lễ đại tế của Nhà nước, tuy nhiên trước năm 1837 không có quy định rõ ràng trong việc quy định tổ chức vào ngày nào. Chỉ biết, nghi lễ là tổ chức vào khoảng thời gian cuối năm tương ứng với tiết Thượng Tiêu (dựng nêu).

Đại Nam thực lục tập 3, đệ nhị kỷ – quyển LXX, Canh dần, năm Minh Mệnh thứ 11 (1830) chép:

“Định lại lệ ở các đền miếu. (Miếu Lịch đại đế vương, miếu Lê Thánh tông và Văn miếu hai kỳ tế Xuân Thu, lễ đều dùng tam sinh: xôi, rượu, quả; lễ Chính đán dùng hương nến trầu rượu, bớt các lễ Thượng Tiêu (dựng nêu) và Đoan Dương; miếu đô thành hoàng 2 kỳ tế Xuân Thu, lễ dùng tam sinh: xôi, rượu, quả. Miếu Phong bá (thần làm gió) đầu Xuân tế cầu gió và 2 kỳ tế Xuân Thu.”[19]

Chính sách này chủ yếu nhằm giới hạn việc dựng nêu tại các miếu thờ lịch đại đế vương, với mục đích giữ gìn sự tĩnh lặng, trang nghiêm của không gian thờ tự, tránh để các yếu tố dân gian gây sao nhãng hay làm mất đi tính uy nghi của nghi lễ cung đình. Còn lễ dựng nêu ở cung đình hay những đền, miếu khác vẫn được tổ chức bình thường.

Đại Nam thực lục tập 5, Đệ nhị kỷ – Quyển CLXXXVII, tháng 12 năm Đinh Dậu, Minh Mệnh năm thứ 18 (1837) chép:

“Ngày Quý Dậu, tế hợp hưởng. Trước đấy vua bảo bộ Lễ rằng: Cuối năm hợp tế là việc đại tế của Nhà nước, xét trong sử sách theo nghĩa hợp lại mà tế, trước không chép rõ là nên dùng ngày nào, triều ta theo dùng phép cũ, lấy ngày 15 tháng 12 làm lễ, đời Minh, Thanh Bắc triều, lấy trước ngày trừ tịch 1 ngày đến tế, xét ra không ý nghĩa gì, vả lại quốc tục bản triều, ngày tuế trừ dựng cây nêu, cũng có cáo tế, nay đổi lấy ngày tuế trừ làm ngày tuế hợp hưởng, trẫm thân đến miếu sở làm lễ, để tỏ lễ ý.”[20]

Qua đoạn chép này, có thể thấy rõ vua Minh Mệnh đã chính thức khẳng định tục dựng nêu ngày tuế trừ vốn là quốc tục của nước ta. Bên cạnh đó, vua Minh Mệnh còn định ngày Hợp hưởng cùng vào ngày tuế trừ, khẳng định vị trí trọng yếu của cả hai nghi lễ trong chu kỳ lễ tết cuối năm, một bên là quốc tục, một bên là đại tế.

Đại Nam thực lục tập 5, đệ nhị kỷ – quyển CXCIII, Mậu Tuất, Minh Mệnh năm thứ 19 (1838) chép:

“Bộ Binh sau bàn tâu, cho là phận biển ở Nam Kỳ từ trước không có giặc nhà Thanh đậu ở ngoài biển, vẫn theo như trước làm việc, còn từ Bình Thuận trở ra Bắc đến Quảng Yên, các cửa biển ven biển có người canh giữ, thì đều theo phận biển tuần phòng, phàm những nơi phận biển hai cửa biển tiếp giáp nhau, do quan tỉnh sở tại đều dựng nêu ở trên bờ biển, biên rõ phía Nam thuộc cửa biển này, phía Bắc thuộc cửa biển kia, và phận biển 2 tỉnh tiếp giáp nhau, cũng cùng dựng nêu, hằng năm từ tháng trọng xuân đến tháng trọng thu, chính gặp tiết hậu thuyền công vận chở, thuyền buôn đi lại, thuyền đi tuần ở Kinh phái đi và tỉnh phái đi, đều trước hết phải đủ súng, đạn, khí giới, đạn đá, tất cả đồ dùng đánh trận dưới nước, và ống nhòm, lương thực theo thuyền, còn thuyền đi tuần ở các cửa biển thì cứ theo phận cửa biển tuần tiễu, thường đến chỗ tiếp giáp dựng nêu mới được trở về; thuyền đi tuần của tỉnh phái đi thì theo mặt biển phận tỉnh tuần tiễu, còn đi thuyền cần phải đến chỗ dựng nêu, phía Nam đến địa phận tỉnh nào, phía Bắc đến địa phận tỉnh nào, lần lượt đi lại ở khoảng thuyền đi tuần các cửa biển mà đốc thúc, cửa biển nào sơ khoáng, bẩm tỉnh nghiêm hặc, thuyền đi tuần Kinh phái đi thì có 2 đoàn Nam Bắc, mỗi đoàn 4, 5 chiếc, chia làm 2 đợt, cách 3 ngày hay 5 ngày làm một đợt, đại khái đợt đi trước đến giữa giới phận, đợt sau mới từ đầu giới phận ra đi, đợt sau đến giữa giới phận, đợt trước lại từ cuối giới phận mà về, lần lượt đi lại ở khoảng các thuyền đi tuần ở phận tỉnh, phận cửa biển mà trông coi cả, thuyền nào sơ khoáng cũng lập tức báo tỉnh tham hặc.”[21]

Tư liệu này cho thấy từ rất sớm, triều Nguyễn đã có ý thức rõ ràng trong việc xác lập và quản lý chủ quyền biển đảo. Và cây nêu có từ bao đời nay chính là sự lựa chọn để đánh dấu chủ quyền, địa vực lãnh thổ đó. Tại các cửa biển từ Bình Thuận ngược ra tới Quảng Yên, đều có lực lượng tuần phòng đóng giữ, triều đình đã quy định rõ ràng những vị trí giáp ranh giữa hai cửa biển hay hai tỉnh đều phải dựng nêu trên bờ, như một cách khẳng định nơi nào có cây nêu nơi đó là địa vực Tổ quốc.

Đại Nam thực lục tập 8, Đệ tứ kỷ – Quyển LVI, Bính Tý, Tự Đức năm thứ 29 (1876) chép:

“Chuẩn định lệ dựng nêu, hạ nêu. (Lệ cũ ngày 30 Tết trồng nêu, mồng 7 tháng Giêng năm sau hạ nêu, đều cho Khâm thiên giám chọn giờ lành để hành lễ. Sau chuẩn cho đều lấy giờ Thìn làm giờ nhất định).”[22]

Trước kia, lệ dựng nêu thường diễn ra vào ngày 30 tháng Chạp, còn lễ hạ nêu vào mùng 7 tháng Giêng; thời khắc cử hành do Khâm thiên giám chọn theo giờ lành. Đến tháng Chạp năm 1878, vua Tự Đức ban chiếu chuẩn định, quy định cả hai nghi lễ đều được cử hành vào giờ Thìn.

Nêu trong thi ca

Không phải ngẫu nhiên mà cây nêu bước vào thi ca Việt, bởi lẽ cây nêu đã in sâu vào tâm thức người Việt như một phần không thể tách rời của ngày Tết, của quê hương, của niềm tin vào sự giao hòa giữa con người và vũ trụ.

Trong bài thơ Tết của mẹ tôi, Nguyễn Bính gợi lại hình ảnh Tết quê nhà qua nhịp sống cần mẫn của người mẹ:

“Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều

Mẹ tôi lo liệu đủ trăm điều

Sân gạch tường vôi người quét lại

Vẽ cung trừ quỷ, trồng cây nêu”

Với Nguyễn Công Trứ, cây nêu là thước đo thời gian Tết đến xuân về:

“Trừ tịch kêu vang ba tiếng pháo

Nguyên tiêu cao ngất một gang nêu”

Ngô Thì Sĩ trong thơ Đường luật cổ điển cũng đưa hình ảnh cây nêu vào bức tranh phong tục Tết truyền thống:

“Gỗ đào, lửa liễu ghi năm tháng,

Nêu trúc, cành đa phong tục xưa.”

Nguyễn Khuyến lại khéo léo kết hợp nêu với tiếng pháo, chè rượu, để gợi không khí vui nhộn mà cũng đầy suy ngẫm về kiếp người:

“Ai nấy dại vô cùng, pháo pháo nêu nêu kinh những Quỷ

Ta đây nhàn bất trị, chè chè rượu rượu sướng bằng Tiên”

Hay cách ông dân dã ghi lại chuyển giao năm mới qua hai hình ảnh quen thuộc:

“Tối ba mươi, nghe pháo nổ đùng, ờ ờ Tết,

Sáng mùng một, vấp nêu đánh cộc, à à Xuân”

Tục dựng nêu vốn bắt nguồn từ đời sống dân gian và dần trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt mỗi độ Tết đến xuân về. Từ mái tranh quê đến tường cao cung cấm, cây nêu vươn cao như một dấu hiệu linh thiêng báo mùa sum vầy, thanh tẩy và an lành. Chính bởi sự mộc mạc, dân dã ấy mà hình ảnh cây nêu không chỉ là “gia vị” không thể thiếu của Tết cổ truyền, mà còn là “gia vị” của thi ca, gợi nhắc đến những giá trị văn hóa bền chặt trong tâm thức người Việt.

Tổng kết

Tục dựng nêu là một trong những tập tục truyền thống lâu đời, kết tinh nhiều lớp nghĩa trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Việt. Hình ảnh cây nêu vươn cao giữa sân nhà hay trước miếu điện không chỉ xác lập ranh giới giữa cõi thiêng và cõi tục, mà còn phản ánh sâu sắc thế giới quan và nhân sinh quan của một cộng đồng người Việt luôn hướng về tổ tiên, trời đất và sự hòa hợp với vũ trụ.

Từ nếp nhà dân dã đến nghi lễ cung đình, đặc biệt dưới triều Nguyễn, tục dựng nêu đã vượt khỏi phạm vi phong tục để trở thành quốc lễ. Không chỉ là biểu tượng của ngày Tết, cây nêu còn là biểu tượng của ý thức về chủ quyền lãnh thổ – Ngọn nêu phải ở trên cao để dễ dàng trông thấy, nơi nào có cây nêu, nơi ấy là đất của người Việt.

Trong bối cảnh hiện đại, việc nghiên cứu, bảo tồn và phục dựng tục dựng nêu không chỉ là gìn giữ một tập truyền thống tốt đẹp, mà còn là cách chúng ta giữ lấy bản sắc, khẳng định gốc rễ và niềm tin vào những giá trị bền vững của văn hóa Việt.

Chú thích

[1] Nguyễn Văn Huyên, Hội hè lễ tết của người Việt, Nxb Thế giới, 2017, tr. 17.

[2] Đại Nam thực lục (大南寔錄) là bộ biên niên sử Việt Nam viết về triều đại các chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn. Đại Nam thực lục gồm 584 quyển, viết bằng chữ Hán thể văn ngôn và ghi chép các sự kiện lịch sử tới năm 1925 (không bao gồm vua Bảo Đại). Ban đầu, bộ sách mang tên Đại Nam thật lục (大南實錄) nhưng tới đời vua Thiệu Trị, chữ “實” bị đổi thành “寔” và đọc là “thực” do kỵ húy với tên của Tá Thiên Hoàng hậu (vợ vua Minh Mệnh và cũng là mẹ của vua Thiệu Trị).

[3] Quốc sử quán triều Nguyễn , Đại Nam thực lục, Viện Sử học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nxb Giáo dục, 2006, tập 4, tr. 482.

[4] Đạo giáo (道教) hay gọi là Tiên Đạo, có nguồn gốc từ Trung Quốc và do người Trung Quốc sáng lập nên còn được gọi là tôn giáo bản địa. Đạo giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến chính trị, kinh tế, văn hóa Trung Quốc cổ đại; là một trong Tam giáo tồn tại song song với Nho giáo và Phật giáo. Đạo giáo xuất hiện từ thế kỉ thứ IV TCN, với các tên gọi khác là Lão giáo, Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo gia, Tiên Giáo.

[5] Viện Văn hóa, Tết năm mới ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, 1999, tr. 20 – 21.

[6] Tứ tung ngũ hoành 四縱五橫 (bốn đường dọc, năm đường ngang), vốn chỉ một phương cách để tìm cầu sự bình an, may mắn khi xuất hành của những người tin theo thuật số kỳ môn độn giáp của Đạo giáo. Tứ tung ngũ hoành gồm 4 đường dọc và 5 đường ngang đan vào nhau, trông như một tấm lưới, tạo cảm giác lộn xộn, lung tung, ngang dọc, bốn bề, đâu đâu cũng có.

[7] Khang Hy từ điển là một bộ từ điển chữ Hán có tầm ảnh hưởng lớn, do một nhóm học giả đời Hoàng đế Khang Hy (4 tháng 5 năm 1654 – 20 tháng 12 năm 1722), đứng đầu là Trương Ngọc Thư  và Trần Đình Kính biên soạn. Công tác thu thập và được bắt đầu vào năm Hoàng đế Khang Hy thứ 19, hoàn thành năm Khang Hy thứ 25 (1716).

[8] Trang Tử (莊子; 369 – 286 TCN), tên thật là Trang Chu (莊周), ông là nhà tư tưởng, triết gia và nhà văn nổi tiếng trong thời Chiến Quốc. Ông là một nhân vật tiêu biểu của Đạo giáo và được xếp cạnh sư phụ của mình là Lão Tử. Vào thời vua Đường Huyền Tông, ông được vua ban cho sách lệnh là Nam Hoa chân nhân, cuốn sách Trang Tử của ông cũng đổi thành Nam Hoa chân kinh.

[9] Nguyễn Hiến Lê, Trang Tử Nam Hoa kinh, Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2012, tr. 277.

[10] Ân (còn gọi là nhà Thương hay Ân Thương) là một triều đại cổ đại của Trung Quốc, tồn tại ở khu vực thung lũng sông Hoàng Hà. Đây là triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa được xác nhận rõ ràng bằng các bằng chứng khảo cổ như di tích, văn tự, đồ đồng,… Trước nhà Thương, sử sách Trung Quốc chép rằng có nhà Hạ, nhưng đến nay chưa tìm được bằng chứng khảo cổ chắc chắn để xác minh sự tồn tại của triều đại này. Về thời gian tồn tại, có nhiều cách xác định khác nhau: theo nhà nghiên cứu Lưu Hâm, nhà Thương tồn tại từ khoảng năm 1766 TCN đến 1122 TCN; theo Trúc thư kỉ niên là từ 1556 TCN đến 1046 TCN; còn theo kết quả của “Hạ Thương Chu đoạn đại công trình”, một công trình nghiên cứu niên đại lớn của Trung Quốc thì triều đại này kéo dài từ khoảng năm 1600 TCN đến 1046 TCN.

[11] Cá chép vượt Vũ Môn: Theo truyền thuyết xưa, mỗi năm một lần, trời tổ chức kỳ thi chọn rồng. Các loài thủy tộc đều có thể tham gia, nhưng phải vượt qua ba đợt sóng dữ tại cổng Vũ Môn, một cửa sông hiểm trở đổ ra biển lớn. Trong muôn loài, chỉ có cá chép là con vật duy nhất đủ sức vượt qua ba đợt sóng, nhảy qua long môn, lập tức hóa thành Rồng bay lên trời.

[12] Bùa Nêu Ông Cọp: Là một bản in từ mộc bản mực tàu được in trên giấy màu đỏ là loại bùa dùng để trấn trạch.

[13] Alexandre de Rhodes, Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, Hồng Nhuệ dịch, Ủy ban Đoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1994, tr. 66.

[14] Gia Định thành thông chí là một quyển địa chí của Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825) viết về miền đất Gia Định bằng chữ Nho và chữ Nôm, là một sử liệu quan trọng về Nam Bộ thời nhà Nguyễn.

[15] Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Nguyễn Tạo dịch, Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa ấn bản, 1972, quyển hạ, tr. 7.

[16] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Viện Sử học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nxb Giáo dục, 2006, tập 2, tr. 381.

[17]  Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Viện Sử học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nxb Giáo dục, 2006, tập 2, tr. 391.

[18] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Viện Sử học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nxb Giáo dục, 2006, tập 2, tr. 699.

[19] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Viện Sử học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nxb Giáo dục, 2006, tập 3, tr. 113.

[20] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Viện Sử học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nxb Giáo dục, 2006, tập 5, tr. 235.

[21] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Viện Sử học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nxb Giáo dục, 2006, tập 5, tr. 340 – 341.

[22] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Viện Sử học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nxb Giáo dục, 2006, tập 8, tr. 216.

Tài liệu tham khảo

  1. Alexandre de Rhodes (1994), Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, Hồng Nhuệ dịch, Ủy ban Đoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Nguyễn Hiến Lê (2012), Trang Tử Nam Hoa kinh, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
  3. Nguyễn Thu Hoài, “Nguồn gốc, ý nghĩa và nghi thức dựng cây Nêu trong ngày Tết”, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, https://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/nguon-goc-y-nghia-va-nghi-thuc-dung-cay-neu-trong-ngay-tet.htm, ngày truy cập: 04/03/2025.
  4. Nguyễn Văn Huyên (2017), Hội hè lễ Tết của người Việt, Nxb Thế giới.
  5. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, tập 2, Viện Sử học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nxb Giáo dục.
  6. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, tập 3, Viện Sử học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nxb Giáo dục.
  7. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, tập 5, Viện Sử học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nxb Giáo dục.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, tập 8, Viện Sử học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch, Nxb Giáo dục.
  9. Trịnh Hoài Đức (1972), Gia Định thành thông chí, Nguyễn Tạo dịch, Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc trách Văn hóa ấn bản.
  10. Viện Văn hóa (1999), Tết năm mới ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin.
ShareTweet

Để lại một bình luận Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


No Result
View All Result
  • Nghi lễ vòng đời
    • Hôn lễ
    • Sinh con
    • Động thổ làm nhà
    • Mừng thọ và sinh nhật
    • Tang ma
    • Ngày giỗ
  • Nghi lễ hàng năm
    • Dịp Tết Nguyên Đán 1/1
    • Dâng sao giải hạn 15/1
    • Nguyên tiêu 15/1
    • Tết Thanh minh 3/3
    • Tết Hàn thực 3/3
    • Tết Đoan ngọ 5/5
    • Lễ Thất Tịch 7/7
    • Lễ Vu Lan 15/7
    • Tết Trung Nguyên 15/7
    • Tết Trung thu 15/8
    • Tết Trùng Cửu 9/9
    • Tết Cơm mới (10-15/10)
    • Tết Táo Quân 23/12
    • Ngày mùng 1 hàng tháng
    • Ngày rằm hàng tháng
  • Đặc trưng văn hóa Việt
    • Chữ và Nghĩa
    • Phong tục thờ cúng
    • Văn hóa giao tiếp
    • Món ăn truyền thống
    • Trò chơi dân gian
    • Trang phục truyền thống
    • Nghệ thuật truyền thống
    • Di sản văn hoá
    • Nền nếp sinh hoạt
  • Tôn giáo tín ngưỡng
    • Phật giáo
    • Công giáo
    • Thờ cúng tổ tiên
    • Thờ cúng tổ nghề
    • Tín ngưỡng thờ Thần
    • Tín ngưỡng thờ Mẫu
    • Tôn giáo khác

© 2021 cophong.vn